vanban.org

Quyết định 54/2023/HNGĐ-ST — Yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn...

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận toàn bộ yêu cầu của Bà Lê Hồ Phương L.

Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa Bà Lê Hồ Phương L và ông Văn Cao T. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn... — án hôn nhân và gia đình — "Bà Lê Hồ Phương L- Ông Văn Cao T"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận toàn bộ yêu cầu của Bà Lê Hồ Phương L.
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết số 97/2015/QH13 Về chất vấn và trả lời chất vấn t…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỦ CHI
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 54/2023/HNGĐ-ST
Ngày: 17-01-2023.
V/v: Tranh chấp ly hôn

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỦ CHI – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thơ

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Phạm Thị Ngọc

2. Bà Nguyễn Phước Trinh

- Thư ký phiên tòa: Bà Trương Thị Hằng - Thư ký Toà án nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi không tham gia phiên tòa.

Trong ngày 17 tháng 01 năm 2023 tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Củ Chi – Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 1040/2022/TLST-HNGĐ ngày 11 tháng 7 năm 2022 về tranh chấp Ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 700/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 15 tháng 12 năm 2022 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 722/2022/QĐST-HNGĐ ngày 29 tháng 12 năm 2022 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Lê Hồ Phương L, sinh năm: 1994; Địa chỉ: Số 03 Nguyễn Thị T, tổ 1, khu phố 5, thị trấn C, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh. (Có đơn xin vắng mặt)

- Bị đơn: Ông Văn Cao T, sinh năm: 1992; Địa chỉ: Số 190 Quốc lộ 22, tổ 2, ấp Đ, xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh. (vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn xin ly hôn nộp ngày 20/6/2022 và bản tự khai, biên bản không tiến hành hòa giải được, nguyên đơn Bà Lê Hồ Phương L trình bày: Bà và ông Văn Cao T tự nguyện sống chung từ năm 2010 và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Tân Phú Trung, huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh theo giấy chứng nhận kết hôn số: 178 quyển số 01/2014 cấp ngày 17/9/2014. Sau khi kết hôn, vợ chồng bà sống hòa thuận tại xã T, huyện C. Đến đầu năm 2018 bắt đầu phát sinh mâu thuẫn vợ chồng, nguyên nhân do bất đồng ý kiến, thường xuyên cãi vã. Bà cũng đã nhiều lần hòa giải nhưng cả hai bên không đạt được mục đích. Nhận thấy cuộc sống hôn nhân hiện tại không có hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được. Nay bà khởi kiện và yêu cầu Tòa án giải quyết cho tôi được ly hôn với ông Văn Cao T.

Về nuôi con chung: Bà xác định có 02 con chung tên Văn Thị Kiều M, sinh ngày: 16/9/2011 và Văn Thị Mỹ D, sinh ngày: 11/7/2013. Bà có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng cả hai con và không yêu cầu ông Tân phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con.

Về chia tài sản chung: Không có.

Về nghĩa vụ dân sự chung: Không có.

Bị đơn đã được Toà án tống đạt hợp lệ thông báo thụ lý, thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hoà giải đến lần thứ 2 mà vẫn vắng mặt không rõ lý do. Do vậy, Toà án quyết định đưa vụ án ra xét xử.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Căn cứ đơn xin ly hôn ngày 20/6/2022, Hội đồng xét xử xác định quan hệ pháp luật cần giải quyết là Tranh chấp Ly hôn được quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án.

Bị đơn có nơi cư trú tại ấp Đ, xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh. Căn cứ quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân huyện Củ Chi.

Tòa án đã tiến hành triệu tập hợp lệ lần thứ hai mà bị đơn vẫn vắng mặt không rõ lý do. Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn.

Bà Lê Hồ Phương L và ông Văn Cao T tự nguyện sống chung, có đăng ký kết hôn và được Ủy ban nhân dân xã Tân Phú Trung, huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh cấp giấy chứng nhận kết hôn số: 178 quyển số 01/2014 cấp ngày 17/9/2014, nên xác định đây là hôn nhân hợp pháp.

Theo đơn xin ly hôn, Nguyên đơn cho rằng trong quá trình sống chung cả hai phát sinh nhiều mâu thuẫn, nguyên nhân bất đồng quan điểm sống dẫn đến hay cãi vã không thể tiếp tục sống chung được nữa. Mặc dù bà đã cố gắng hòa giải nhưng không thành. Tòa án nhận thấy trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn không gửi văn bản trình bày ý kiến mặc dù được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng theo quy định nhưng vẫn vắng mặt không rõ lý do, thể hiện bị đơn không mong muốn đoàn tụ và hàn gắn quan hệ vợ chồng. Do vậy, Tòa án không có cơ sở để hòa giải đoàn tụ theo quy định. Căn cứ vào Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử xét thấy mâu thuẫn vợ chồng giữa Bà Lê Hồ Phương L và ông Văn Cao T là có xảy ra, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được và không có khả năng đoàn tụ nên chấp nhận yêu cầu về việc ly hôn của nguyên đơn là có cơ sở.

Về nuôi con chung: Nguyên đơn xác định trong quá trình sống chung, bà và ông Tân có 02 con chung tên: Văn Thị Kiều M, sinh ngày: 16/9/2011 và Văn Thị Mỹ D, sinh ngày: 11/7/2013. Tại đơn xin ly hôn, bà yêu cầu được quyền trực tiếp nuôi 02 trẻ. Hội đồng xét xử xét thấy tại Bản tự khai ngày 12/8/2022 của cháu Kiều M và Mỹ D thể hiện cả 02 cháu đang sống chung với bà L và có nguyện vọng được tiếp tục sống chung với bà L. Trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn không gửi văn bản trình bày ý kiến về việc nuôi con chung mặc dù được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng theo quy định nhưng vẫn vắng mặt không rõ lý do. Do vậy để ổn định tâm sinh lý cho trẻ, Hội đồng xét xử xét thấy tiếp tục giao 02 trẻ Văn Thị Kiều M và Văn Thị Mỹ D cho bà L trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp.

Về mức cấp dưỡng nuôi con chung, tại đơn xin ly hôn, bà L xác định không yêu cầu ông Tân cấp dưỡng nuôi con chung. Đây là sự tự nguyện của bà L , do vậy Hội đồng xét xử không xem xét.

Về chia tài sản chung: Nguyên đơn xác định không có.

Về nghĩa vụ dân sự chung: Nguyên đơn xác định không có.

Bị đơn vắng mặt tại phiên toà, nếu có tranh chấp về nuôi con chung, về chia tài sản chung và nghĩa vụ dân sự chung sẽ được giải quyết bằng vụ kiện khác.

Căn cứ khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự và Luật phí, lệ phí tòa án số 97/2015/QH13 ngày 25 tháng 11 năm 2015, nghĩ nên buộc nguyên đơn phải nộp án phí sơ thẩm theo quy định là phù hợp.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; các Điều 51, 56, 81, 82, 83 và 84 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Luật phí, lệ phí số 97/2015/QH13 ngày 25 tháng 11 năm 2015.

Tuyên xử:

Chấp nhận toàn bộ yêu cầu của Bà Lê Hồ Phương L.

1. Về hôn nhân:

Cho ly hôn giữa Bà Lê Hồ Phương L và ông Văn Cao T.

(Quan hệ vợ chồng giữa Bà Lê Hồ Phương L và ông Văn Cao T được xác lập theo Giấy chứng nhận kết hôn số:178 quyển số 01/2014 cấp ngày 17/9/2014 do Ủy ban nhân dân xã Tân Phú Trung, huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh cấp).

2. Về nuôi con chung: Giao 02 (hai) con chung tên Văn Thị Kiều M, sinh ngày: 16/9/2011 và Văn Thị Mỹ D, sinh ngày: 11/7/2013 cho Bà Lê Hồ Phương L trực tiếp nuôi dưỡng.

Ghi nhận sự tự nguyện của đương sự không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung.

Người không trực tiếp nuôi con chung có quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục con chung, không ai được cản trở.

Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc việc cấp dưỡng nuôi con theo yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức có quyền yêu cầu theo quy định tại Điều 84, Điều 119 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.

3. Về chia tài sản chung, nghĩa vụ dân sự chung: Nguyên đơn xác định không yêu cầu Tòa án giải quyết.

4. Án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm về việc ly hôn là 300.000 (Ba trăm ngàn) đồng buộc Bà Lê Hồ Phương L phải nộp, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 (Ba trăm ngàn) đồng theo biên lai số AA/2021/0045011 ngày 11 tháng 7 năm 2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Củ Chi; Bà Lê Hồ Phương L đã nộp đủ tiền án phí.

Thi hành tại Chi cục Thi hành án dân sự có thẩm quyền.

5. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn và bị đơn không có mặt tại phiên toà thì có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ