vanban.org

Quyết định 53/2025/QĐST-LĐ — Yêu cầu tuyên bố hợp đồng lao động, thỏa ước lao động tập thể vô hiệu

TAND TX. Tân Uyên, tỉnh Bình Dương Tuyên án 05/06/2025 Lao động Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

̀ ban Thườ ng vu ̣ Quốc hô ̣i quy đi ̣nh về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phi và lê ̣ phi Tòa án.

Chấp nhận yêu cầu giải quyết việc lao động của ông Ngụy Văn K. Tuyên bố hợp đồng lao động giữa ông Ngụy Văn K, sinh năm 1991, số số chứng minh nhân dân xxxxxxxxx ( số căn cước công dân xxxxxxxxxxxx) với Công ty TNHH Th thời gian từ tháng 09/2009 đến tháng 01/2011 bị vô hiệu. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Yêu cầu tuyên bố hợp đồng lao động, thỏa ước lao động tập thể vô hiệu — án lao động — "Ngụy Văn K - yêu cầu tuyên bố HĐLĐ vô hiệu"
  • Tòa quyết gì? ̀ ban Thườ ng vu ̣ Quốc hô ̣i quy đi ̣nh về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phi và lê ̣ phi Tòa án.
  • Căn cứ chính? Điều 149 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 15 Bộ luật Lao động; Điều 16 Bộ luật Lao động
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ TÂN UYÊN
TỈNH BÌNH DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 53/2025/QĐST-LĐTân Uyên, ngày 05 tháng 6 năm 2025

QUYẾT ĐỊNH

SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC LAO ĐỘNG

V/v yêu cầu tuyên bố hợp đồng lao động vô hiệu

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TÂN UYÊN, TỈNH BÌNH DƯƠNG

Thành phần giải quyết việc lao động gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Bà Võ Thị Hồng Thêm.

Thư ký phiên họp: Bà Nguyễn Thị Mỹ Nhân - Thư ký Tòa án.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tân Uyên, tỉnh Bình Dương tham gia phiên họp: Ông Võ Anh Duy - Kiểm sát viên.

Ngày 05 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân thành phố Tân Uyên mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc lao động thụ lý số: 45/2025/TLST-VLĐ ngày 06 tháng 5 năm 2025 về việc “Yêu cầu tuyên bố hợp đồng lao động vô hiệu” theo Quyết định mở phiên họp sơ thẩm giải quyết việc lao động số: 45/2025/QĐST-LĐ ngày 15 tháng 5 năm 2025, Quyết định hoãn phiên họp sơ thẩm giải quyết việc lao động số 07/2025/QĐST-VLĐ ngày 22 tháng 5 năm 2025, gồm những người tham gia tố tụng sau đây:

- Người yêu cầu giải quyết việc lao động: Ông Ngụy Văn K, sinh năm 1991; địa chỉ: ấp L, xã X, huyện D, tỉnh Trà Vinh. Có văn bản xin vắng mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. Ông Ngụy Văn Đ, sinh năm 1995; địa chỉ: ấp C, xã N, huyện D, tỉnh Trà Vinh. Có văn bản xin vắng mặt.

2. Công ty TNHH Th; địa chỉ: khu phố B, phường Kh, thành phố T, tỉnh Bình Dương.

Người đại diện hợp pháp: Bà Chí Như Y, sinh năm 1995; địa chỉ: Thôn B, xã Q, huyện G, tỉnh Đắk Nông; là người đại diện theo ủy quyền (theo Giấy ủy quyền ngày 20/5/2025). Có văn bản xin vắng mặt.

3. Bảo hiểm xã hội thành phố T; địa chỉ: Khu phố 5, phường U, thành phố T, tỉnh Bình Dương. Có văn bản xin vắng mặt.

Những người tham gia tố tụng khác: Không.

NỘI DUNG VIỆC LAO ĐỘNG:

- Theo đơn yêu cầu giải quyết việc lao động và lời khai trong quá trình giải quyết, bà Ngụy Văn K trình bày: Từ tháng 04/2010 đến tháng 03/2024, ông K làm việc tại Công ty TNHH Y và tham gia bảo hiểm xã hội với mã số bảo hiểm 7910129976.

Từ tháng 9/2009 đến tháng 01/2011, ông K cho ông Ngụy Văn Đ mượn chứng minh nhân dân để làm hồ sơ xin việc làm tại Công ty TNHH Th và tham gia bảo hiểm xã hội tên Ngụy Văn K với mã số BHXH 7409074475.

Vì đóng trùng bảo hiểm xã hội nên ông K không thực hiện được thủ tục để hưởng các quyền lợi, chế độ cho người lao động nghỉ việc. Do đó, ông K yêu cầu Tòa án nhân dân thành phố T tuyên bố hợp đồng lao động giữa ông Ngụy Văn K (do ông Ngụy Văn Đ ký hợp đồng) với Công ty TNHH Th (thời gian làm việc từ tháng 9/2009 đến tháng 01/2011) bị vô hiệu.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Bảo hiểm xã hội thành phố T, tỉnh Bình Dương (viết tắt là BHXH) trình bày: Qua kiểm tra đối chiếu dữ liệu tham gia BHXH, bảo hiểm y tế (BHYT), bảo hiểm thất nghiệp (BHTN), TNLĐ-BNN của ông Ngụy Văn K như sau: ông Ngụy Văn K, sinh ngày 01/7/1991, số chứng minh nhân dân: xxxxxxxxx (Số CCCD xxxxxxxxxxxx) được Công ty TNHH Th tham gia BHXH, BHYT, BHTN, bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp (BHTNLĐ-BNN) với mã số BHXH 7409074475 từ tháng 09/2009 đến tháng 01/2011. Đã xác nhận quá trình đóng BHXH, BHTN, BHTNLĐ-BNN.

Mã số BHXH 7409074475 tên Ngụy Văn K đã hưởng BHXH một lần theo Quyết định số 031301564 ngày 21/3/2013, chưa hưởng trợ cấp BHTN, đã hưởng chế độ ốm đau 130.778 đồng.

Ông Ngụy Văn K còn được Công ty TNHH Y Việt Nam tham gia BHXH, BHYT, BHTN, BHTNLĐ-BNN với mã số BHXH 7910129976 từ tháng 04/2010 đến tháng 03/2024.

Thời gian đóng trùng BHXH giữa mã số BHXH 7409074475 với mã số BHXH 7910129976 là từ tháng 4/2010 đến tháng 01/2011.

Về yêu cầu của ông Ngụy Văn K tuyên bố hợp đồng lao động vô hiệu thì Bảo hiểm xã hội thành phố T, tỉnh Bình Dương đề nghị giải quyết theo quy định pháp luật.

- Người đại diện hợp pháp của Công ty TNHH Th trình bày: ông Ngụy Văn K có làm việc tại Công ty và quá trình tham gia BHXH từ tháng 09/2009 đến tháng 01/2011 với mã BHXH 7409074475.

Đối với yêu cầu tuyên bố hợp đồng lao động ký giữa ông Ngụy Văn K với Công ty TNHH Th vô hiệu đề nghị giải quyết theo quy định pháp luật.

- Ông Ngụy Văn Đ trình bày: Năm 2009, ông Đ có mượn giấy chứng minh nhân dân của ông Ngụy Văn K để xin việc tại Công ty TNHH Th từ tháng 09/2009 đến tháng 01/2011. Ông Đ đồng ý tuyên bố hợp đồng lao động vô hiệu.

- Ý kiến của Kiểm sát viên tham gia phiên họp:

Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Trong quá trình giải quyết việc lao động Thẩm phán và Thư ký đã thực hiện đúng trình tự thủ tục quy định tại Bộ luật Tố tụng dân sự. Người yêu cầu, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về việc giải quyết việc dân sự: Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc lao động đã được xem xét tại phiên họp, nhận thấy yêu cầu tuyên bố hợp đồng lao động giữa ông Ngụy Văn K với Công ty TNHH Th (từ tháng 09/2009 đến tháng 01/2011) là vô hiệu của người yêu cầu ông Ngụy Văn K là có căn cứ nên đề nghị Tòa án chấp nhận.

Những yêu cầu, kiến nghị để khắc phục vi phạm về tố tụng: Không có.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ được thẩm tra tại phiên họp, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát, Tòa án nhân dân thành phố T, tỉnh Bình Dương nhận định:

Về việc vắng mặt của những người tham gia tố tụng: Người yêu cầu và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt. Do đó, Tòa án tiến hành phiên họp vắng mặt các đương sự theo khoản 2, khoản 3 Điều 367 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về nội dung:

Quá trình tố tụng các đương sự thống nhất trình bày: ông Ngụy Văn K, sinh ngày 01/7/1991, số chứng minh nhân dân: xxxxxxxxx (Số CCCD xxxxxxxxxxxx) được Công ty TNHH Th tham gia BHXH, BHYT, BHTN, bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp (BHTNLĐ-BNN) với mã số BHXH 7409074475 từ tháng 09/2009 đến tháng 01/2011. Đã xác nhận quá trình đóng BHXH, BHTN, BHTNLĐ-BNN.

Mã số BHXH 7409074475 tên Ngụy Văn K đã hưởng BHXH một lần theo Quyết định số 031301564 ngày 21/3/2013, chưa hưởng trợ cấp BHTN, đã hưởng chế độ ốm đau 130.778 đồng.

Ông Ngụy Văn K còn được Công ty TNHH Y Việt Nam tham gia BHXH, BHYT, BHTN, BHTNLĐ-BNN với mã số BHXH 7910129976 từ tháng 04/2010 đến tháng 03/2024.

Thời gian đóng trùng BHXH giữa mã số BHXH 7409074475 với mã số BHXH 7910129976 là từ tháng 4/2010 đến tháng 01/2011.

Quan hệ lao động giữa Công ty TNHH Th và ông Ngụy Văn K phát sinh từ hợp đồng lao động từ tháng 9/2009 đến tháng 01/2011 tham gia BHXH với mã số BHXH 7409074475. Tuy nhiên, ông Ngụy Văn K không ký hợp đồng lao động với Công ty TNHH Th và không có làm việc tại công ty trong khoảng thời gian trên mà do ông Ngụy Văn Đ mượn hồ sơ của ông Ngụy Văn K làm việc tại Công ty TNHH Th.

Xét thấy, việc ông Ngụy Văn K không có giao kết hợp đồng lao động với Công ty TNHH Th mà do người khác sử dụng tên và số chứng minh nhân dân của ông Ngụy Văn K giao kết hợp đồng lao động. Hành vi trên đã vi phạm nguyên tắc tự nguyện, bình đẳng, thiện chí, hợp tác và trung thực khi xác lập quan hệ lao động theo quy định tại khoản 1 Điều 15 của Bộ luật Lao động, vi phạm nghĩa vụ cung cấp thông tin theo quy định tại khoản 2 Điều 16 của Bộ luật Lao động nên thuộc trường hợp hợp đồng lao động vô hiệu Tòan bộ theo khoản 1 Điều 49 của Bộ luật Lao động.

Quá trình làm việc, Bảo hiểm xã hội thành phố T đã cung cấp thông tin về thời gian đóng bảo hiểm xã hội của ông Ngụy Văn K bị trùng từ tháng 09/2009 đến tháng 01/2011. Do đó, ông K yêu cầu tuyên bố hợp đồng lao động được ký kết giữa ông Ngụy Văn K với Công ty TNHH Th từ tháng 09/2009 đến tháng 01/2011 vô hiệu là có cơ sở chấp nhận.

Về hậu quả của hợp đồng vô hiệu: Các đương sự xác định không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét. Sau khi Quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật, người lao động có quyền liên hệ cơ quan Bảo hiểm xã hội để được giải quyết các chế độ bảo hiểm xã hội theo quy định.

Các bên có quyền và nghĩa vụ liên hệ cơ quan có thẩm quyền để thực hiện các thủ tục liên quan đến bảo hiểm theo quy định của pháp luật.

Ý kiến của Kiểm sát viên tham gia phiên họp là có cơ sở và phù hợp với quy định của pháp luật.

Về lệ phí: Ông Ngụy Văn K phải chịu theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

- Các Điều 33, 39, 149, 367, 372, 401, 402 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

- Các Điều 15, 16, 49, 50 và 51 của Bộ luật Lao động;

- Điều 37 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngay 30/12/2016 của Ủ y

̀ ban Thườ ng vu ̣ Quốc hô ̣i quy đi ̣nh về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phi và lê ̣ phi Tòa án.

́

́

1. Chấp nhận yêu cầu giải quyết việc lao động của ông Ngụy Văn K.

Tuyên bố hợp đồng lao động giữa ông Ngụy Văn K, sinh năm 1991, số số chứng minh nhân dân xxxxxxxxx ( số căn cước công dân xxxxxxxxxxxx) với Công ty TNHH Th thời gian từ tháng 09/2009 đến tháng 01/2011 bị vô hiệu.

Các bên có quyền và nghĩa vụ liên hệ cơ quan có thẩm quyền để thực hiện các thủ tục liên quan đến bảo hiểm theo quy định của pháp luật.

2. Lệ phí sơ thẩm giải quyết việc lao động: ông Ngụy Văn K phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng), được trừ tiền tạm ứng đã nộp theo biên lai thu số 0002536 ngày 28/4/2025 của Chi cục Thi hành án Dân sự thành phố T, tỉnh Bình Dương.

3. Người yêu cầu, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến việc giải quyết việc dân sự có quyền kháng cáo quyết định giải quyết việc dân sự trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày nhận được quyết định hoặc kể từ ngày quyết định được thông báo, niêm yết. Viện kiểm sát cùng cấp có quyền kháng nghị quyết định này trong thời hạn 10 ngày, Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp có quyền kháng nghị trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày Tòa án ra quyết định.

4. Trong trường hợp quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a,7b và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự./.

Cỡ chữ