vanban.org

Quyết định 53/2024/QĐ-TA

TAND huyện Lục Yên, tỉnh Yên Bái Tuyên án 27/11/2024 Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Bàn Nghị L.

Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là 24 (hai mươi bốn) tháng, kể từ ngày người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính bị tạm giữ để đưa đi cơ sở cai nghiện bắt buộc. Bàn Nghị L có quyền khiếu nại quyết định trong hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày nhận được Quyết định của Tòa án. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? "Quyết định áp dụng biện pháp hảnh chính đưa Bàn Nghị L vào cơ sở cai nghiện bắt buộc"
  • Tòa quyết gì? Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Bàn Nghị L.
  • Căn cứ chính? Điều 105 Luật Xử lý vi phạm hành chính; Điều 110 Luật Xử lý vi phạm hành chính; Điều 20 Pháp lệnh số 03/2022/UBTVQH15 Trình tự, thủ tục xem xét, quy…

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN LỤC YÊN
TỈNH YÊN BÁI
Số: 53/2024/QĐ-TA
Lục Yên, ngày 27 tháng 11 năm 2024

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỤC YÊN -TỈNH YÊN BÁI.

Với thành phần tiến hành phiên họp gồm có:

1. Thẩm phán: Ông Hoàng Văn Anh

2. Thư ký phiên họp: Ông Nguyễn Ngọc Linh.

Ngày 27 tháng 11 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Lục Yên, tỉnh Yên Bái, tiến hành phiên họp xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo Quyết định mở phiên họp số 51/2024/QĐ-TA ngày 20 tháng 11 năm 2024 đối với:

Bàn Nghị L: giới tính: Nam; sinh ngày 17-11-1973

Số ĐDCN: 015073013016 (Bàn Nghị L không xuất trình căn cước công dân)

Dân tộc: Dao; tôn giáo: Không; trình độ học vấn: Không biết chữ

Nguyên quán: Xã P, huyện L, tỉnh Y

HKTT: Thôn 01 V, xã P, huyện L, tỉnh Y.

Chỗ ở: Thôn 01 V, xã P, huyện L, tỉnh Y.

Nghề nghiệp: Lao động tự do

Tiền án: Có 01 tiền án về tội mua bán trái phép chất ma túy

Tiền sự: Không.

Con ông Bàn Minh Đ (đã chết) và bà Đặng Thị Q

Bàn Nghị L- Vắng mặt.

Có sự tham gia của:

1. Đại diện cơ quan đề nghị: Ông Hoàng Quốc Chiến- Chuyên Viên phòng lao động- Thương binh và xã hội huyện Lục Yên.

2. Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Lục Yên, tỉnh Yên Bái: Bà Hoàng Thị Cẩm Tú- Kiểm sát viên.

NHẬN THẤY:

Bàn Nghị L là người nghiện chất ma túy từ năm 2016. Ngày 13-9-2024 chủ tịch Ủy ban nhân dân xã P, huyện L, tỉnh Y ra quyết định số 779/QĐ-UBND áp dụng biện pháp quản lý người sử dụng trái phép chất ma túy đối với Bàn Nghị L. Trong thời gian chấp hành quyết định áp dụng biện pháp quản lý người sử dụng trái phép chất ma túy Bàn Nghị L tiếp tục sử dụng trái phép chất ma túy với hình thức chích Hê rô in vào cơ thể. Ngày 29-10-2024 Công an xã P phối hợp với Phòng khám đa khoa khu vực K xét nghiệm tình trạng nghiện ma túy đối với Bàn Nghị L. Kết quả xét nghiệm của Phòng khám đa khoa khu vực K ngày 30-10-2024 xác định Bàn Nghị L là người nghiện chất ma túy. Ngày 30-10-2024 Công an xã P thông báo kết quả xác định tình trạng nghiện đối với Bàn Nghị L. Bàn Nghị L không đăng ký cai nghiện ma túy tự nguyện hoặc đăng ký điều trị nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc thay thế. Do đó Bàn Nghị L thuộc đối tượng bị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo quy định tại khoản 1 Điều 32 Luật phòng chống ma túy. Ngày 11-11-2024 Ủy ban nhân dân xã P tiến hành lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa Bàn Nghị L vào cơ sở cai nghiện bắt buộc

Tại phiên họp đại diện Phòng lao động- Thương binh và xã hội huyện Lục Yên phát biểu ý kiến: Bàn Nghị L là đối tượng nghiện ma túy. Chính quyền địa phương đã ra quyết định áp dụng biện pháp quản lý người sử dụng trái phép chất ma túy tại nơi cư trú đối với Bàn Nghị L, nhưng Bàn Nghị L không từ bỏ được ma túy. Như vậy có đủ điều kiện áp dụng biện pháp xử lý hành chính đối với Bàn Nghị L đề nghị Tòa án áp dụng biện pháp đưa Bàn Nghị L vào cơ sở cai nghiện bắt buộc với thời gian từ 18 đến 24 tháng

Đại diện viện kiểm sát nhân dân huyện Lục Yên phát biểu ý kiến:

- Hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính cơ bản đúng theo quy định tại Điều 9, 95, 96, 103, 104 Luật xử lý vi phạm hành chính; Điều 32 Luật phòng chống ma túy; Điều 28, 33, 40,41,42,43 Nghị định số 116/2021/NĐ-CP ngày 21-12-2021; Pháp lệnh số 03/2022/UBTVQH15 ngày 13-12-2022 về trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân;

- Qúa trình thụ lý hồ sơ và tại phiên họp xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính Thẩm phán, thư ký đã thực hiện đúng quy trình, thủ tục, thành phần tham gia phiên họp.

- Có đủ Căn cứ để áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Bàn Nghị L. Đề nghị căn cứ quy định tại Điều 9, 95, 96 103, 104 Luật xử lý vi phạm hành chính; Điều 32 Luật phòng chống ma túy; Điều 28, 33, 40, 41, 42, 43 Nghị định số 116/2021/NĐ-CP ngày 21-12-2021 và Pháp lệnh số 03/2022/UBTVQH15 ngày 13-12-2022 về trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân: Chấp nhận đề nghị của cơ quan đề nghị về việc áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Bàn Nghị L với thời gian từ 18 đến 24 tháng.

XÉT THẤY

Hồ sơ được lập đúng theo trình tự, thủ tục quy định tại Điều 103, Điều 104 luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012 sửa đổi bổ xung năm 2020.

Căn cứ vào các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ: Đã xác định Bàn Nghị L là người có đủ năng L trách nhiệm hành chính. Do nghiện chất ma túy, L đã nhiều lần sử dụng trái phép chất ma túy. Mặc dù nhận thức được việc sử dụng trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật, nhưng L vẫn cố tình thực hiện với mục đích để thỏa mãn cơn nghiện cho bản thân. Hành vi của L đã gây ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự an toàn xã hội ở địa phương.

Xét về nhân thân: Bàn Nghị L không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hành chính. Tuy nhiên ngày 28-3-2018 Bàn Nghị L bị Tòa án nhân dân huyện L, tỉnh Y xử phạt 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “mua bán trái phép chất ma túy” bằng bản án số 05/2018/HS- ST, đến ngày 19-11-2023 Bàn Nghị L chấp hành xong chưa được xóa án, do đó Bàn Nghị L có nhân thân không tốt. Trong quá trình lập hồ sơ Bàn Nghị L “Tự nguyện khai báo, thành thật hối lỗi”. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hành chính được quy định tại khoản 2 Điều 9 Luật xử lý vi phạm hành chính được xem xét giảm nhẹ một phần khi quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính. Tại phiên họp Bàn Nghị L đã được triệu tập hợp lệ để tham gia phiên họp nhưng vắng mặt không có lý do là chưa thực hiện đúng, đầy đủ quy định của pháp lệnh số 03/2022/UBTVQH15 ngày 13-12-2022.

Qua nội dung phát biểu của phòng lao động- Thương binh và xã hội; ý kiến của Kiểm sát viên, xét thấy: Việc các cơ quan có thẩm quyền lập hồ sơ đề nghị Tòa án xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện đối với Bàn Nghị L là cần thiết, phù hợp với quy định tại Điều 95, 96, khoản 2 Điều 105 Luật xử lý vi phạm hành chính; Điều 32 Luật phòng chống ma túy giúp Triệu Trung Lâm từ bỏ được ma túy, trở thành người có ích cho gia đình và xã hội.

Căn cứ khoản 2 Điều 9, khoản 2 Điều 95, khoản 1 Điều 96, khoản 2 điều 105, điểm b khoản 1 Điều 110 Luật xử lý vi phạm hành chính; khoản 3 Điều 32 Luật phòng chống ma túy; khoản 1 Điều 20, 24, 25, 31, 32 Pháp lệnh số 03/2022/UBTVQH15 ngày 13-12-2022 về trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân: Có đủ căn cứ áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Bàn Nghị L.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

1. Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Bàn Nghị L.

2. Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là 24 (hai mươi bốn) tháng, kể từ ngày người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính bị tạm giữ để đưa đi cơ sở cai nghiện bắt buộc.

3. Bàn Nghị L có quyền khiếu nại quyết định trong hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày nhận được Quyết định của Tòa án.

Cơ quan đề nghị có quyền kiến nghị; Viện Kiểm sát nhân dân huyện có quyền kháng nghị quyết định của Tòa án trong hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày Tòa án công bố quyết định.

4. Quyết định này có hiệu L kể từ ngày hết thời hạn khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị mà không có khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị.

5. Cơ quan thi hành quyết định: Phòng lao động- Thương binh và Xã hội huyện L phối hợp với Công an huyện L có trách nhiệm thi hành quyết định này.

Cỡ chữ