- Tranh chấp gì? "cai nghiện"
- Tòa quyết gì? Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Y N, sinh ngày 04/4/1997.
- Căn cứ chính? Điều 96 Luật Xử lý vi phạm hành chính; Điều 103 Luật Xử lý vi phạm hành chính; Điều 104 Luật Xử lý vi phạm hành chính
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN E TỈNH ĐẮK LẮK | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 53/2023/QĐ-TA | E, ngày 21 tháng 8 năm 2023 |
QUYẾT ĐỊNH
Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN E
Với thành phần tiến hành phiên họp gồm có:
1. Thẩm phán: Bà Nguyễn Thị Bích Thủy
2. Thư ký phiên họp: Bà Nguyễn Lê Hằng Nga
Ngày 21/8/2023, tại Toà án nhân dân huyện E, tỉnh Đắk Lắk tiến hành phiên họp xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo Quyết định mở phiên họp số: 51/2023/QĐ-TA ngày 14 tháng 8 năm 2023, đối với:
Họ và tên: Y N. Giới tính: Nam; sinh ngày 04/4/1997 tại tỉnh Đăk Lăk; dân tộc: Ê Đê; Tôn giáo: Không; Trình độ đào tạo: 09/12; Nguyên quán: Ea H'leo - Đăk Lăk; Hộ khẩu thường trú và chỗ ở hiện nay: Buôn B, xã N, huyện E, tỉnh Đắk Lắk; tiền án: không; tiền sự: không. Con ông Y R và bà H B; có vợ là H K - sinh năm 1998. Có mặt tại phiên họp.
Với sự tham gia của:
1. Đại diện cơ quan đề nghị: Phòng Lao động thương binh & xã hội huyện E: Bà Lưu Thị Quỳnh Giang - Chức vụ: Phó trưởng phòng. Có mặt.
2. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện E: Ông Trần Minh Hoàng - Chức vụ: Kiểm sát viên. Có mặt.
NHẬN THẤY:
Y N là người sử dụng chất ma tuý từ năm tháng 01 năm 2023. Ngày 20/7/2023, Y N có đơn đề nghị xác nhận tình trạng nghiện ma túy. Tại phiếu kết quả xác định tình trạng nghiện ma tuý ngày 24/7/2023 của Trung tâm Y tế huyện E xác định: Y N nghiện ma tuý. Loại: Morphine.
Căn cứ kết quả xét nghiệm trên, ngày 24/7/2023, Công an xã N, huyện E đã ra thông báo yêu cầu Y N trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được thông báo phải đến Ủy ban nhân dân xã N để đăng ký cai nghiện tự nguyện tại gia đình, cộng đồng. Hết thời hạn thông báo, Y N đã không đến đăng ký. Do đó, Công an xã N đã lập biên bản vi phạm đối với Y N về việc “Không đăng ký cai nghiện tự nguyện tại gia đình, cộng đồng”, đồng thời lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.
Tại phiên họp, đại diện Phòng Lao động thương binh & xã hội huyện E, cho rằng Y N là người nghiện ma tuý (đã có kết quả xét nghiệm) nhưng không đăng ký cai nghiện tự nguyện tại gia đình, cộng đồng là vi phạm Điều 31, 33 Nghị định số 116/2021/NĐ-CP ngày 21/12/2021 của Chính Phủ. Vì vậy, Y N thuộc diện áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo quy định. Đề nghị đưa Y N đi cai nghiện bắt buộc tại Cơ sở điều trị cai nghiện ma túy tỉnh Đắk Lắk với thời hạn từ 12 tháng đến 14 tháng.
Tại phiên họp, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện E phát biểu ý kiến cho rằng: Hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Y N được lập đúng trình tự thủ tục và hồ sơ có đầy đủ các tài liệu, chứng cứ. Quá trình chuẩn bị và tại phiên họp, Toà án đã thực hiện đầy đủ và đúng các quy định của pháp luật trong việc xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính. Đề nghị Toà án chấp nhận đề nghị của Phòng Lao động thương binh & xã hội huyện E.
Căn cứ vào tài liệu chứng cứ đã được thu thập trong hồ sơ, căn cứ kết quả tại phiên họp, ý kiến của những người tham gia phiên họp.
XÉT THẤY:
- Về thẩm quyền xem xét, áp dụng biện pháp xử lý hành chính: Cơ quan đề nghị là Phòng Lao động thương binh & Xã hội huyện E có trụ sở tại địa bàn huyện E, nên vụ việc thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện E theo quy định tại khoản 1 Điều 3 Pháp lệnh số 03/2022/UBTVQH15, ngày 13/12/2022 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
- Về thời hiệu: Ngày 01/8/2023, Công an xã N, huyện E đã lập biên bản đối với Y N về hành vi “Không đăng ký cai nghiện tự nguyện tại gia đình, cộng đồng” và lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp cai nghiện bắt buộc thì đến ngày 21/8/2023 Toà án nhân dân huyện E mở phiên họp quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính “Đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc” là còn thời hiệu theo quy định tại khoản 2 Điều 6 Luật xử lý vi phạm hành chính.
- Tính hợp pháp của hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính “Đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc”: Trình tự, thủ tục lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp cai nghiện bắt buộc đối với Y N được thực hiện đầy đủ theo mục I chương V Nghị định 116/2021 ngày 21/12/2021 và Điều 103 Luật xử lý vi phạm hành chính.
Y N là người nghiện ma tuý, loại ma tuý sử dụng là Morphine, hình thức sử dụng là chích. Kết quả xét nghiệm của Cơ quan y tế kết luận: Y N nghiện ma tuý, loại Morphine. Tại hồ sơ thể hiện: Y N bắt đầu sử dụng ma tuý từ tháng 01 năm 2023, hiện tại Y Nhút đang bị nghiện ma túy. Mặc dù được Công an xã N ra thông báo yêu cầu “Đăng ký tự nguyện tại gia đình, cộng đồng”, nhưng Y N không đăng ký là vi phạm khoản 1 Điều 32 Luật phòng chống ma tuý; Điều 31, 33 Nghị định số 116/2021/NĐ-CP ngày 21/12/2021 của Chính Phủ. Vì vậy, Y N thuộc đối tượng bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo khoản 1 Điều 96 Luật xử lý vi phạm hành chính, sửa đổi bổ sung năm 2020.
Xét tính chất mức độ hành vi của Y N trong việc sử dụng ma túy là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước về ma túy. Tuy nhiên, trong quá trình lập hồ sơ Y N tỏ thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Đây là tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 9 Luật xử lý vi phạm hành chính, cần áp dụng đối với Y N trong việc xem xét áp dụng biện pháp xử lý hành chính.
Xét đề nghị, của đại diện Phòng Lao động thương binh & xã hội huyện E đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Y N là có căn cứ, cần chấp nhận.
Bởi các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các Điều 6, khoản 2 Điều 9, Điều 95, 96, 103, 104, 105, 107 và 108 Luật xử lý vi phạm hành chính; khoản 1 Điều 32 Luật phòng chống ma tuý năm 2021; Điều 31, Điều 33 Nghị định số 116/2021/NĐ-CP ngày 21/12/2021 của Chính Phủ.
1. Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Y N, sinh ngày 04/4/1997.
Nơi chấp hành: Cơ sở điều trị cai nghiện ma túy tỉnh Đắk Lắk; Địa chỉ: Thôn 4, xã T, huyện P, tỉnh Đắk Lắk.
2. Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là 13 (Mười ba) tháng kể từ ngày người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính bị tạm giữ để đưa đi cơ sở cai nghiện bắt buộc.
3. Người bị đề nghị có quyền khiếu nại Quyết định này trong thời hạn 05 (năm) ngày làm việc, kể từ ngày nhận được quyết định. Phòng Lao động Thương binh & Xã hội huyện E có quyền kiến nghị và Viện kiểm sát nhân dân huyện E có quyền kháng nghị Quyết định này trong thời hạn 05 (năm) ngày làm việc, kể từ ngày công bố quyết định.
4. Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị mà không có khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị.
5. Phòng Lao động thương binh & xã hội huyện E phối hợp với Công an huyện E có trách nhiệm thi hành quyết định này ngay sau khi quyết định có hiệu lực pháp luật.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Đắk Lắk. - VKSND huyện E. - Phòng LĐTB&XH huyện E. - Công an huyện E. - Cơ sở điều trị cai nghiện ma túy tỉnh Đắk Lắk; - UBND xã N; - Người bị đề nghị; - Lưu hồ sơ, VP. | THẨM PHÁN Nguyễn Thị Bích Thủy |