vanban.org

Quyết định 51/2022/QĐST-HNGĐ — Yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn...

TAND tỉnh Hà Tĩnh Tuyên án 09/06/2022 Hôn nhân và gia đình Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Quan hệ hôn nhân: Công nhận sự thuận tình ly hôn giữa chị Hoàng Thị Thu H và anh Hồ Văn N.

Về con chung: Công nhận sự thỏa thuận giao con chung là cháu Hồ Hoàng N, sinh ngày 14/7/2015 cho chị Hoàng Thị Thu H nuôi dưỡng, anh Hồ Văn N không phải cấp dưỡng nuôi con chung và được quyền đi lại thăm nom con mà không bị ai ngăn cấm. Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết nên… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn... — án hôn nhân và gia đình — "Việc hôn nhân gia đình H - N (Thuận tình ly hôn)"
  • Tòa quyết gì? Quan hệ hôn nhân: Công nhận sự thuận tình ly hôn giữa chị Hoàng Thị Thu H và anh Hồ Văn N.
  • Căn cứ chính? Điều 149 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 29 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH HÀ TĨNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 51/2022/QĐST-HNGĐ
ơ
Hà Tĩnh, ngày 09 tháng 6 năm 2022

QUYẾT ĐỊNH

GIẢI QUYẾT VIỆC HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH

(V/v yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn)

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ TĨNH

Thành phần giải quyết việc Hôn nhân gia đình:

Thẩm phán chủ tọa phiên họp: Ông Bùi Quang Năng

Thư ký ghi biên bản phiên họp: Bà Ngô Khánh Chi

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Tĩnh tham gia phiên họp: Bà Dương Thị Thanh H - Kiểm sát viên.

Ngày 09 tháng 6 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh, mở phiên họp công khai giải quyết việc Hôn nhân gia đình thụ lý 49/2022/TLST-HNGĐ ngày 30/3/2022 về việc “Yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn”, theo Quyết định mở phiên họp số 49/2022/QĐ-TA ngày 02 tháng 6 năm 2022, giữa các đương sự:

1. Chị Hoàng Thị Thu H, sinh năm 1995. Địa chỉ: Số nhà M, ngõ M, đường H, phường N, thành phố Hà Tĩnh, Hà Tĩnh. Có văn bản đề nghị giải quyết vắng mặt.

2. Anh Hồ Văn N, sinh năm 1992. Địa chỉ trước khi xuất cảnh: Thôn G, xã An Hòa T, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh. Hiện đang lao động tại Đài Loan. Đề nghị giải quyết vắng mặt.

NỘI DUNG VIỆC HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH:

Theo đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn của chị Hoàng Thị Thu H, ý kiến thống nhất toàn bộ yêu cầu ly hôn của anh Hồ Văn N, cùng các tài liệu có tại hồ sơ, việc dân sự có nội dung:

* Về tình cảm: Chị Hoàng Thị Thu H và anh Hồ Văn N tự do tìm hiểu và tự nguyện đăng ký kết hôn vào ngày 14/01/2015 tại UBND xã S (nay là xã An Hòa T), huyện H, tỉnh Hà Tĩnh. Sau khi chung sống được một thời gian ngắn, chị Hoàng Thị Thu H và anh Hồ Văn N phát sinh nhiều mâu thuẫn do bất đồng quan điểm vì tính tình không hòa hợp và sự khác biệt trong lối sống. Năm 2018, anh Hồ Văn N đi lao động tại Đài Loan cho đến nay chưa lần nào về thăm gia đình. Trong thời gian anh Năm đi làm ăn xa, vì tình cảm đã có rạn nứt từ trước và khoảng cách địa lý dẫn đến đời sống hôn nhân của hai vợ chồng ngày càng phai nhạt, vợ chồng sống ly thân từ đầu năm 2018 đến nay. Chị H và anh Năm đều thừa nhận đã không còn tìm được tiếng nói chung, không thể hàn gắn, níu kéo cũng không hạnh phúc.

Đến nay, hai vợ chồng cùng xác định tình trạng hôn nhân của vợ chồng không thể dung hòa, hàn gắn nên đề nghị Tòa án công nhận thuận tình ly hôn.

* Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung là cháu Hồ Hoàng N, sinh ngày 14/7/2015. Cả hai thống nhất giao con chung là cháu Hồ Hoàng N cho chị Hoàng Thị Thu H nuôi dưỡng, anh Hồ Văn N không phải cấp dưỡng nuôi con chung và được quyền đi lại thăm nom con mà không bị ai ngăn cấm.

* Về tài sản chung, nợ chung: Không có tài sản chung, nợ chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Tĩnh sau khi nhận xét việc chấp hành pháp luật của thẩm phán, thư ký và các đương sự đã phân tích nội dung vụ việc, các vấn đề đương sự đã thỏa thuận thống nhất được với nhau, đề nghị Tòa án áp dụng Điều 361 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Điều 51, 55, 57, 127 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014. Điều 146, 149 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Điều 4, Điều 6, Điều 9 Nghị quyết 326/2016/UBTVQHH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội chấp nhận yêu cầu của các đương sự.

Về lệ phí: Chấp nhận sự tự nguyện nộp lệ phí ly hôn sơ thẩm của chị Hoàng Thị Thu H.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc Hôn nhân gia đình đã được thẩm tra tại phiên họp; ý kiến của đương sự và quan điểm của đại diện Viện kiểm sát; Tòa án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh nhận định:

Về thủ tục tố tụng:

Chị Hoàng Thị Thu H và anh Hồ Văn N đều đề nghị Tòa án giải quyết vắng mặt. Do đó, căn cứ quy định tại Điều 367 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Tòa án tiến hành mở phiên họp giải quyết việc Hôn nhân gia đình vắng mặt chị Hoàng Thị Thu H và anh Hồ Văn N theo thủ tục chung.

Tại Công văn số 4745/QLXNC-P5 ngày 09/3/2022 về việc cung cấp thông tin xuất nhập cảnh của Cục Quản lý Xuất nhập cảnh Bộ công an thể hiện “Anh Hồ Văn N, sinh ngày 05/3/1992 lần xuất cảnh gần nhất ngày 15/01/2018 qua Cửa khẩu sân bay Quốc tế Nội Bài và chưa có thông tin nhập cảnh về nước”. Căn cứ quy định tại khoản 25 Điều 3, Điều 122, 127 Luật Hôn nhân và Gia đình; Điều 29, 37, 39, 464 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, nội dung yêu cầu của chị Hoàng Thị Thu H và anh Hồ Văn N thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh.

Quá trình giải quyết, anh Hồ Văn N thông qua hình thức gọi điện thoại đã trình bày ý kiến liên quan đến nội dung chị Hoàng Thị Thu H khởi kiện. Theo đó, anh Hồ Văn N đồng ý toàn bộ nội dung yêu cầu khởi kiện của chị Hoàng Thị Thu H. Đồng thời ủy quyền giao, nhận tài liệu cho mẹ ruột là bà Phan Thị T, trú tại Thôn G, xã An Hòa T, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh. Trên tinh thần Công văn số 253/TANDTCPC ngày 26 tháng 11 năm 2018 của Tòa án nhân dân tối cao về việc giải quyết vụ án ly hôn có bị đơn là người Việt Nam ở nước ngoài nhưng không rõ địa chỉ, Tòa án sẽ tống đạt các tài liệu, văn bản tố tụng cho người được ủy quyền giao nhận tài liệu của đương sự hiện đang ở nước ngoài và quyết định chuyển quan hệ pháp luật từ vụ án Hôn nhân gia đình thành việc Hôn nhân gia đình.

Tòa án đã tiến hành tống đạt Thông báo thụ lý vụ án Hôn nhân gia đình, Quyết định mở phiên họp giải quyết việc Hôn nhân gia đình cho các đương sự là thực hiện đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự.

Về nội dung:

Về quan hệ hôn nhân:

Hôn nhân giữa chị Hoàng Thị Thu H và anh Hồ Văn N được xây dựng trên cơ sở tình yêu, tự do tìm hiểu và hoàn toàn tự nguyện, không trái đạo đức, thuần phong mỹ tục, có đăng ký kết hôn và tổ chức lễ cưới công khai. Căn cứ quy định tại Điều 9, Điều 12 Luật hôn nhân và gia đình thì đây là hôn nhân hợp pháp.

Sau khi kết hôn, hai vợ chồng chung sống được một thời gian ngắn, đầu năm 2018, anh Hồ Văn N đi lao động tại Đài Loan cho đến nay chưa lần nào về thăm gia đình. Trong thời gian đi làm ăn xa, vì khoảng cách địa lý và những mâu thuẫn đã phát sinh từ trước nên đời sống hôn nhân của chị H, anh Năm ngày càng phai nhạt, tình cảm vợ chồng rạn nứt. Anh Năm và chị H đều thừa nhận đã không còn tìm được tiếng nói chung, không thể hàn gắn, níu kéo cũng không hạnh phúc. Hai vợ chồng đều khẳng định không thể tiếp tục gắn bó tình cảm nên yêu cầu Tòa án công nhận thuận tình ly hôn.

Xét thấy, tình cảm vợ chồng giữa chị Hoàng Thị Thu H và anh Hồ Văn N hiện nay không còn, mục đích hôn nhân không đạt được. Hai vợ chồng đã tự nguyện thỏa thuận ly hôn. Do đó, chấp nhận yêu cầu của chị H, anh Năm như quan điểm của đại diện Viện kiểm sát tại phiên họp là phù hợp. Căn cứ quy định tại Điều 55 Luật Hôn nhân gia đình, công nhận sự thỏa thuận ly hôn giữa các đương sự, giải quyết cho chị Hoàng Thị Thu H và anh Hồ Văn N được thuận tình ly hôn là đúng quy định của pháp luật.

Về quan hệ con chung:

Cả hai thống nhất giao con chung là cháu Hồ Hoàng N, sinh ngày 14/7/2015 cho chị Hoàng Thị Thu H nuôi dưỡng, anh Hồ Văn N không phải cấp dưỡng nuôi con chung và được quyền đi lại thăm nom con mà không bị ai ngăn cấm.

Cháu Hồ Hoàng N có đơn trình bày nguyện vọng thể hiện mong muốn được ở với mẹ là chị Hoàng Thị Thu H.

Xét nguyện vọng của con chung và sự thỏa thuận về việc nuôi con chung sau ly hôn của chị Hoàng Thị Thu H và anh Hồ Văn N là phù hợp với thực tế, đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của con chung.

Cần công nhận sự thỏa thuận về việc nuôi con và nghĩa vụ cấp dưỡng tiền nuôi con chung sau ly hôn của các đương sự.

Về tài sản chung, nợ chung:

Các đương sự không yêu cầu nên Tòa án không xem xét.

Xét thấy, các đương sự đã tự nguyện thỏa thuận toàn bộ nội dung việc Hôn nhân gia đình; sự thỏa thuận của các đương sự là tự nguyện, đúng pháp luật, không vi phạm điều cấm. Mâu thuẫn vợ chồng đã đến mức trầm trọng, không có khả năng đoàn tụ, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, công nhận sự thuận tình ly hôn giữa chị Hoàng Thị Thu H và anh Hồ Văn N để mỗi người tự xây dựng cuộc sống mới. Trong trường hợp phát sinh tranh chấp thì đương sự có quyền khởi kiện bằng một vụ án khác.

Về án phí: Chị Hoàng Thị Thu H tự nguyện chịu toàn bộ lệ phí giải quyết việc hôn nhân và gia đình nên được chấp nhận.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ các Điều 29, 35, 37, 39, 227, 361, 367, 369, 370, 371, 469, 479 Điều 149 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Khoản 3 Điều 2, các Điều 19, 51, 55, 81, 82, 83, 123, 127 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014, Điều 35, 37 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về án phí, lệ phí Tòa án:

1. Quan hệ hôn nhân: Công nhận sự thuận tình ly hôn giữa chị Hoàng Thị Thu H và anh Hồ Văn N.

2. Về con chung: Công nhận sự thỏa thuận giao con chung là cháu Hồ Hoàng N, sinh ngày 14/7/2015 cho chị Hoàng Thị Thu H nuôi dưỡng, anh Hồ Văn N không phải cấp dưỡng nuôi con chung và được quyền đi lại thăm nom con mà không bị ai ngăn cấm.

3. Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết nên miễn xét.

4. Về lệ phí giải quyết việc dân sự: Chấp nhận sự tự nguyện nộp 300.000đ lệ phí ly hôn sơ thẩm của chị Hoàng Thị Thu H theo biên lai số 0000140 ngày 29/3/2022 tại Cục thi hành án Dân sự tỉnh Hà Tĩnh.

5. Quyền kháng cáo, kháng nghị: Người yêu cầu giải quyết việc Hôn nhân và gia đình không có quyền kháng cáo; Viện kiểm sát cùng cấp; Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp không có quyền kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm đối với Quyết định này.

6. Quyết định này có hiệu lực pháp luật kể từ ngày 09/6/2022.

Cỡ chữ