vanban.org

Quyết định 51/2019/HS-GĐT — Hình sự

TAND cấp cao tại Đà Nẵng Tuyên án 22/11/2019 Hình sự Giám đốc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 22/11/2019 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận một phần Quyết định kháng nghị giám đốc thẩm số 34/QĐ-VC2 ngày 14/3/2019 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng.

Sửa Bản án hình sự sơ thẩm số 01/2014/HSST ngày 25/11/2014 của Tòa án nhân dân huyện T, tỉnh Quảng Ngãi như sau: Áp dụng: Khoản 1 Điều 138; điểm p khoản 1 Điều 46 của Bộ luật hình sự năm 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009) Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Ngô Thị Tuyết L - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 138 Bộ luật hình sự năm 1999)"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận một phần Quyết định kháng nghị giám đốc thẩm số 34/QĐ-VC2 ngày 14/3/2019 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng.
  • Căn cứ chính? Điều 138 Bộ luật Hình sự; Điều 382 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 388 Bộ luật Tố tụng hình sự
TẠI ĐÀ NẴNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Quyết định số: 51/2019/HS-GĐT
Ngày 22 tháng 11 năm 2019

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

ỦY BAN THẨM PHÁN

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI ĐÀ NẴNG

- Thành phần Ủy ban Thẩm phán Tòa án nhân dân cấp cao gồm có:

Chánh án - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Anh Tiến.

Các thành viên Hội đồng giám đốc thẩm: Bà Lê Thị Ngọc Hà, ông Lại Văn Trình, ông Nguyễn Văn Tiến, ông Trần Minh Tuấn, ông Vũ Thanh Liêm, ông Nguyễn Thanh Long, ông Trương Minh Tuấn, ông Lê Tự, ông Đặng Kim Nhân và ông Phạm Việt Cường.

- Thư ký phiên tòa: Ông Phan Nguyễn Thanh Toàn - Thư ký Tòa án.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng tham gia phiên tòa: Ông Quách Đức Dũng - Kiểm sát viên.

Ngày 22 tháng 11 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng mở phiên tòa giám đốc thẩm xét xử vụ án hình sự đối với Ngô Thị Tuyết L. Theo Bản án hình sự sơ thẩm số 01/2014/HSST ngày 25/11/2014 của Tòa án nhân dân huyện T, tỉnh Quảng Ngãi lý lịch bị cáo như sau:

Ngô Thị Tuyết L, sinh ngày 17/5/1970 tại Quảng Ngãi; Nơi đăng ký NKTT: Thôn M, xã M, huyện M, tỉnh Quảng Ngãi; chỗ ở: M, M, M, tỉnh Quảng Ngãi; nghề nghiệp: không; trình độ học vấn: lớp 12/12; con nuôi ông Ngô Văn B (chết) và bà Trương Thị Lệ V; chồng: Nguyễn Tấn D và có 02 con, con lớn sinh năm 1992, con nhỏ sinh năm 2001; tiền án: Ngày 09/6/2008, bị can án 12 tháng tù cho hưởng án treo về tội “Trộm cắp tài sản”. Ngày 09/10/2010, bị can án 12 tháng tù về tội “Trốn khỏi nơi giam” Tổng hợp hình phạt của hai bản án thành 24 tháng tù. Ngày 14/6/2012 bị can án 18 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Năm 2013 đã chấp hành xong; tiền sự: không; bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 14/01/2014 đến ngày 18/02/2014.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Sáng ngày 14/01/2014, lợi dụng cửa hàng kinh doanh điện thoại “M” (thị trấn S, huyện T, tỉnh Quảng Ngãi) không có người trông coi nên Ngô Thị Tuyết L lẻn vào lấy trộm 96 thẻ card điện thoại di động, trị giá 4.065.000 đồng thì bị bắt quả tang.

Tại Kết luận điều tra số 21/CQĐT ngày 09/4/2014, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện T, tỉnh Quảng Ngãi đề nghị truy tố bị cáo Ngô Thị Tuyết L về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 2 Điều 138 Bộ luật hình sự năm 1999.

Tại Cáo trạng số 20/KSĐT ngày 29/4/2014, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân huyện T, tỉnh Quảng Ngãi truy tố bị cáo Ngô Thị Tuyết L về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm c khoản 2 Điều 138 Bộ luật hình sự năm 1999.

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 01/2014/HSST ngày 25/11/2014, Tòa án nhân dân huyện T, tỉnh Quảng Ngãi áp dụng điểm c khoản 2 Điều 138; điểm p khoản 1 Điều 46; Điều 33 Bộ luật Hình sự năm 1999 xử phạt bị cáo Ngô Thị Tuyết L 30 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”.

Tại Quyết định kháng nghị giám đốc thẩm số 34/QĐ-VC2 ngày 14/3/2019, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng đề nghị Ủy ban Thẩm phán Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng xét xử theo thủ tục giám đốc thẩm, sửa bản án sơ thẩm nêu trên theo hướng áp dụng khoản 1 Điều 138 Bộ luật Hình sự năm 1999 và giảm hình phạt cho bị cáo.

Tại phiên tòa giám đốc thẩm, đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng giữ nguyên Quyết định kháng nghị và đề nghị Ủy ban Thẩm phán Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng chấp nhận Quyết định kháng nghị số 34/QĐ-VC2 ngày 14/3/2019 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

. Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa sơ thẩm bị cáo Ngô Thị Tuyết L đã khai nhận hành vi phạm tội, lời khai của bị cáo phù hợp với những tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ, nên có đủ cơ sở để xác định vào ngày 14/01/2014, Ngô Thị Tuyết L đã có hành vi trộm cắp 96 thẻ card điện thoại di động, trị giá 4.065.000 đồng. Tòa án nhân dân huyện T, tỉnh Quảng Ngãi xét xử bị cáo về tội “Trộm cắp tài sản” là có căn cứ và đúng tội.

. Tại Quyết định giám đốc thẩm số 49/2019/HS-GĐT ngày 22/11/2019, Ủy ban Thẩm phán Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng đã xác định hành vi Ngô Thị Tuyết L lấy trộm số tiền 1.881.500 đồng của chị Huỳnh Thị Mai H vào ngày 12/3/2008 thuộc trường hợp đương nhiên được xóa án tích theo Nghị quyết số 33/2009/NQ-QH12 ngày 19/6/2009 của Quốc hội về việc thi hành Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Hình sự 2009.

Tại Quyết định giám đốc thẩm số 50/2019/HS-GĐT ngày 22/11/2019, Ủy ban Thẩm phán Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng đã hủy Bản án hình sự sơ thẩm số 35/2012/HSST ngày 14/6/2012 của Tòa án nhân dân huyện Đ, tỉnh Quảng Ngãi và đình chỉ vụ án với lý do hành vi Ngô Thị Tuyết L lấy trộm 1.061.000 đồng của bà Đinh Thị H vào ngày 07/3/2012 là chưa đủ yếu tố cấu thành tội phạm.

. Do hành vi Ngô Thị Tuyết L trộm 1.881.500 đồng của chị Huỳnh Thị Mai H thuộc trường hợp đương nhiên được xóa án tích, hành vi lấy trộm 1.061.000 đồng của bà Đinh Thị H chưa đủ yếu tố cấu thành tội phạm nên Ngô Thị Tuyết L chưa có tiền án tiền sự. Vì vậy, do Ngô Thị Tuyết L trộm 96 thẻ card điện thoại di động trị giá 4.065.000 đồng nên chỉ bị xét xử theo khoản 1 Điều 138 Bộ luật hình sự năm 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009). Do đó, Tòa án nhân dân huyện T, tỉnh Quảng Ngãi nhận định bị cáo Ngô Thị Tuyết L phạm tội thuộc trường hợp “tái phạm nguy hiểm” và áp dụng điểm c khoản 2 Điều 138 Bộ luật hình sự năm 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009) để xử phạt bị cáo là không đúng pháp luật.

. Tại khoản 1 Điều 138 Bộ luật hình sự năm 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009) quy định mức hình phạt tù từ sáu tháng đến ba năm, Ngô Thị Tuyết L đã có nhiều hành vi lấy trộm tài sản, sau khi ra tù một thời gian ngắn lại tiếp tục trộm cắp tài sản nên cần phải có mức hình phạt thật nghiêm khắc mới đủ tác dụng răn đe, giáo dục. Vì vậy, mặc dù Tòa án nhân dân huyện T áp dụng khoản 2 Điều 138 Bộ luật hình sự năm 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009) để xử phạt bị cáo là không đúng nhưng thấy mức hình phạt 30 tháng tù là phù hợp.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 2 Điều 382, khoản 5 Điều 388, Điều 393 của Bộ luật Tố tụng hình sự;

1. Chấp nhận một phần Quyết định kháng nghị giám đốc thẩm số 34/QĐ-VC2 ngày 14/3/2019 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng.

2. Sửa Bản án hình sự sơ thẩm số 01/2014/HSST ngày 25/11/2014 của Tòa án nhân dân huyện T, tỉnh Quảng Ngãi như sau:

Áp dụng: Khoản 1 Điều 138; điểm p khoản 1 Điều 46 của Bộ luật hình sự năm 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009)

Xử phạt: Bị cáo Ngô Thị Tuyết L 30 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án, được trừ thời gian tạm giữ, tạm giam từ ngày 14/01/2014 đến ngày 18/02/2014.

3. Quyết định của Hội đồng giám đốc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày ra quyết định.

Cỡ chữ