- Tranh chấp gì? Yêu cầu tuyên bố hợp đồng lao động, thỏa ước lao động tập thể vô hiệu — án lao động — "Tuyên bố hợp đồng lao động vô hiệu"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận toàn bộ yêu cầu giải quyết việc lao động của bà Văn Thị Trinh T.
- Căn cứ chính? Điều 149 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 15 Bộ luật Lao động; Điều 16 Bộ luật Lao động
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc | |
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TÂN UYÊN TỈNH BÌNH DƯƠNG Số: 49/2025/QĐST-VLĐ | Tân Uyên, ngày 15 tháng 5 năm 2025 |
QUYẾT ĐỊNH
SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC LAO ĐỘNG
V/v Yêu cầu tuyên bố hợp đồng lao động vô hiệu
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TÂN UYÊN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
Thành phần giải quyết việc lao động gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Bà Ngô Thị Mỹ Trúc.
Thư ký phiên họp: Bà Lê Hà Trang - Thư ký Toà án.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tân Uyên, tỉnh Bình Dương tham gia phiên họp: Ông Võ Anh Duy - Kiểm sát viên.
Ngày 15 tháng 5 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân thành phố T mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc lao động thụ lý số 39/2025/TLST-VLĐ ngày 01 tháng 4 năm 2025 về việc “Yêu cầu tuyên bố hợp đồng lao động vô hiệu” theo Quyết định mở phiên họp sơ thẩm giải quyết việc lao động số 39/2025/QĐST-VLĐ ngày 01 tháng 4 năm 2025, gồm những người tham gia tố tụng sau đây:
Người yêu cầu giải quyết việc dân sự: Bà Văn Thị Trinh T, sinh năm 1996; địa chỉ: Ấp V, xã V, huyện T, tỉnh Vĩnh Long; có yêu cầu giải quyết vắng mặt
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Bà Nguyễn Thị Yến N, sinh năm 2000; địa chỉ: Ấp V, xã V, huyện T, tỉnh Vĩnh Long; có yêu cầu giải quyết vắng mặt
- Bảo hiểm xã hội tỉnh B; có yêu cầu giải quyết vụ án vắng mặt
- Công ty TNHH S; địa chỉ: Lô F đường D và N5, khu công nghiệp N, phường K, thành phố T, tỉnh Bình Dương; có yêu cầu giải quyết vụ án vắng mặt
NỘI DUNG VIỆC LAO ĐỘNG:
- Theo đơn yêu cầu giải quyết việc lao động và lời khai trong quá trình giải quyết bà Văn Thị Trinh T trình bày:
Từ tháng 4/2016 đến tháng 12/2016, bà T làm việc tại Công ty TNHH T1; địa chỉ: Khu công nghiệp H, huyện L, tỉnh Vĩnh Long. Trong thời gian làm việc tại công ty, bà T có tham gia bảo hiểm xã hội số sổ 8616006497 do Bảo hiểm xã hội tỉnh V cấp. Sau đó, bà T nghỉ việc và có làm việc ở các công ty khác. Hiện nay, bà T đã nghỉ việc và có liên hệ Bảo hiểm xã hội tỉnh Vĩnh Long thực hiện thủ tục rút bảo hiểm một lần thì được biết ngoài số bảo hiểm 8616006497, bà T còn một số bảo hiểm khác là 7415176772 tham gia làm việc tại Công ty TNHH S từ tháng 11/2015 đến tháng 7/2016. Lý do có sự trùng thời gian tham gia bảo hiểm trên là do bà T có cho bà N mượn chứng minh nhân dân để làm việc tại Công ty TNHH S. Do đó, bà T yêu cầu Tòa án tuyên bố hợp đồng lao động ký kết giữa bà Văn Thị Trinh T với Công ty TNHH S vô hiệu toàn bộ, không yêu cầu xử lý hậu quả của hợp đồng vô hiệu.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị Yến N trình bày:
Năm 2016, bà N chưa có chứng minh nhân dân nên có mượn chứng minh nhân dân của bà T để làm việc tại Công ty TNHH S và tham gia bảo hiểm xã hội số 7415176772 từ tháng 11/2015 đến tháng 7/2016. Do đó, bà N thống nhất với yêu cầu của bà T.
- Người đại diện hợp pháp của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan - Bảo hiểm xã hội tỉnh B (viết tắt là BHXH) trình bày: Bà Văn Thị Trinh T có mã số BHXH 7415176772 tham gia bảo hiểm xã hội từ tháng 11/2015 đến tháng 7/2016 tại Công ty TNHH S; địa chỉ: Lô F đường D và N5, khu công nghiệp N, phường K, thành phố T, tỉnh Bình Dương và chưa hưởng chế độ bảo hiểm xã hội.
- Đại diện hợp pháp của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan - Công ty TNHH S trình bày:
Qua kiểm tra, rà soát người lao động Văn Thị Trinh T, sinh năm 1996, CMND xxxxxxxxx, số sổ bảo hiểm 7415176772 tham gia từ tháng 11/2015 đến tháng 7/2016. Thông qua cơ sở dữ liệu công ty còn lưu giữ và đối chiếu đã xác định được bà Văn Thị Trinh T cho bà Nguyễn Thị Yến N mượn hồ sơ để làm việc tại Công ty TNHH S từ tháng 11/2015 đến tháng 7/2016. Trong giai đoạn này, quy trình tuyển dụng chưa chặt chẽ dẫn đến Công ty không phát hiện được sự gian dối trong hồ sơ. Công ty TNHH S đồng ý với yêu cầu của bà Văn Thị Trinh T.
- Ý kiến của Kiểm sát viên tham gia phiên họp:
Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Trong quá trình giải quyết việc lao động Thẩm phán và Thư ký đã thực hiện đúng trình tự thủ tục quy định tại Bộ luật Tố tụng Dân sự. Người yêu cầu, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự.
Về việc giải quyết việc dân sự: Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc lao động, đã được xem xét tại phiên họp, nhận thấy yêu cầu tuyên bố hợp đồng lao động giữa bà Văn Thị Trinh T và Công ty TNHH S (Thời gian làm việc từ tháng 11/2015 đến tháng 7/2016) bị vô hiệu của người yêu cầu bà Văn Thị Trinh T là có căn cứ nên đề nghị Tòa án chấp nhận.
Những yêu cầu, kiến nghị để khắc phục vi phạm về tố tụng: Không có.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ được thẩm tra tại phiên họp, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát, Tòa án nhân dân thành phố Tân Uyên, tỉnh Bình Dương nhận định:
[1] Về việc vắng mặt của những người tham gia tố tụng: Người yêu cầu; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt. Do đó, Tòa án tiến hành phiên họp vắng mặt các đương sự nói trên theo khoản 2, khoản 3 Điều 367 của Bộ luật Tố tụng Dân sự.
[2] Về nội dung:
[2.1] Quá trình tố tụng các đương sự khai thống nhất: Trong thời gian từ tháng 11/2016 đến tháng 7/2016, bà Văn Thị Trinh T, sinh năm 1996, Chứng minh nhân dân xxxxxxxxx được Công ty TNHH S tham gia BHXH, bảo hiểm y tế (BHYT), bảo hiểm thất nghiệp (BHTN), bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp (BHTNLĐ-BNN), với mã số BHXH 7415176772 từ tháng 11/2015 đến tháng 7/2016. Đã xác nhận quá trình đóng BHXH, BHTN, BHTNLĐ-BNN. Chưa hưởng BHXH một lần, chưa hưởng BHTN. Quan hệ lao động giữa Công ty TNHH S và bà Văn Thị Trinh T phát sinh từ hợp đồng lao động từ tháng 11/2015 đến tháng 7/2016. Tuy nhiên, bà T và bà N thừa nhận người ký hợp đồng lao động với Công ty TNHH S và thực tế làm việc tại công ty là bà N chứ không phải bà T. Do bà N mượn chứng minh nhân dân và ký hợp đồng lao động để đi làm việc. Trình bày của bà T và bà N phù hợp với hồ sơ bảo hiểm xã hội, cụ thể trong thời gian từ tháng 11/2015 đến tháng 7/2016 bà T có quá trình tham gia bảo hiểm xã hội tại Công ty TNHH S và Công ty TNHH T1.
[2.2] Xét thấy, việc bà N sử dụng chứng minh nhân dân của bà T để giao kết hợp đồng lao động với Công ty TNHH S là hành vi gian dối. Hành vi trên đã vi phạm nguyên tắc tự nguyện, bình đẳng, thiện chí, hợp tác và trung thực khi xác lập quan hệ lao động theo quy định tại khoản 1 Điều 15 của Bộ luật Lao động, vi phạm nghĩa vụ cung cấp thông tin theo quy định tại khoản 2 Điều 16 của Bộ luật Lao động nên thuộc trường hợp hợp đồng lao động vô hiệu toàn bộ theo khoản 1 Điều 49 của Bộ luật Lao động.
[2.3] Quá trình làm việc, Bảo hiểm xã hội tỉnh B đã cung cấp thông tin về thời gian đóng bảo hiểm xã hội của bà T bị trùng từ tháng 4/2016 đến tháng 7/2016. Do đó, bà T yêu cầu tuyên bố hợp đồng lao động được ký kết giữa Công ty TNHH S với bà T từ tháng 11/2015 đến tháng 7/2016 vô hiệu là có cơ sở chấp nhận.
[3] Về hậu quả của hợp đồng vô hiệu: Các đương sự xác định không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét. Sau khi Quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật, người lao động có quyền liên hệ cơ quan Bảo hiểm xã hội để được giải quyết các chế độ bảo hiểm xã hội theo quy định.
[4] Các bên có quyền và nghĩa vụ liên hệ cơ quan có thẩm quyền để thực hiện các thủ tục liên quan đến bảo hiểm theo quy định của pháp luật.
[5] Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát về nội dung việc lao động, các thủ tục tố tụng, quá trình tiến hành tố tụng cũng như diễn biến tại phiên họp là phù hợp với quy định của pháp luật.
[6] Về lệ phí: Bà Văn Thị Trinh T phải chịu theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ các Điều 33, 39, 149, 367, 401, 402 của Bộ luật Tố tụng Dân sự;
- Căn cứ các Điều 15, 16, 49, 50 và 51 của Bộ luật Lao động;
- Căn cứ Điều 37 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu giải quyết việc lao động của bà Văn Thị Trinh T.
Tuyên bố hợp đồng lao động giữa bà Văn Thị Trinh T, sinh năm 1996; địa chỉ: Ấp V, xã V, huyện T, tỉnh Vĩnh Long với Công ty TNHH S trong thời gian làm việc từ tháng 11/2015 đến tháng 7/2016 bị vô hiệu.
Các bên có quyền và nghĩa vụ liên hệ cơ quan có thẩm quyền để thực hiện các thủ tục liên quan đến bảo hiểm theo quy định của pháp luật.
2. Lệ phí sơ thẩm giải quyết việc lao động: Bà Văn Thị Trinh T phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng), được khấu trừ tiền tạm ứng đã nộp theo biên lai thu số 0005169 ngày 25/3/2025 của Chi cục Thi hành án Dân sự thành phố Tân Uyên, tỉnh Bình Dương.
3. Người yêu cầu, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến việc giải quyết việc dân sự có quyền kháng cáo quyết định này trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày nhận được quyết định. Viện kiểm sát cùng cấp có quyền kháng nghị quyết định này trong thời hạn 10 ngày, Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp có quyền kháng nghị trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày Tòa án ra quyết định.
4. Trong trường hợp quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự./.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Bình Dương; - VKSND thành phố Tân Uyên; - Chi cục THADS thành phố Tân Uyên; - Các đương sự; - Lưu: HS. | TM. HỘI ĐỒNG GIẢI QUYẾT VIỆC LAO ĐỘNG THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN HỌP Ngô Thị Mỹ Trúc |