- Tranh chấp gì? Yêu cầu tuyên bố hợp đồng lao động, thỏa ước lao động tập thể vô hiệu — án lao động — "tuyên bố hợp đồng lao động vô hiệu"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận toàn bộ yêu cầu giải quyết việc lao động của bà Châu Thị Lý N.
- Căn cứ chính? Điều 149 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 15 Bộ luật Lao động; Điều 16 Bộ luật Lao động
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc | |
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TÂN UYÊN TỈNH BÌNH DƯƠNG Số: 48/2025/QĐST-VLĐ | Tân Uyên, ngày 15 tháng 5 năm 2025 |
QUYẾT ĐỊNH
SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC LAO ĐỘNG
V/v Yêu cầu tuyên bố hợp đồng lao động vô hiệu
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TÂN UYÊN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
Thành phần giải quyết việc lao động gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Bà Ngô Thị Mỹ Trúc.
Thư ký phiên họp: Bà Lê Hà Trang - Thư ký Toà án.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tân Uyên, tỉnh Bình Dương tham gia phiên họp: Ông Võ Anh Duy - Kiểm sát viên.
Ngày 15 tháng 5 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân thành phố T mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc lao động thụ lý số 41/2025/TLST-VLĐ ngày 22 tháng 4 năm 2025 về việc “Yêu cầu tuyên bố hợp đồng lao động vô hiệu” theo Quyết định mở phiên họp sơ thẩm giải quyết việc lao động số 41/2025/QĐST-VLĐ ngày 23 tháng 4 năm 2025, gồm những người tham gia tố tụng sau đây:
Người yêu cầu: Bà Châu Thị Lý N, sinh năm 1988; địa chỉ thường trú: Ấp B, xã T, huyện T, tỉnh Sóc Trăng; có yêu cầu giải quyết vắng mặt
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Công ty TNHH D; địa chỉ: khu phố H, phường U, thành phố T, tỉnh tỉnh Bình Dương; có yêu cầu giải quyết vắng mặt
- Bảo hiểm xã hội thành phố T, Bình Dương; có yêu cầu giải quyết vắng mặt
- Bà Neang Chanh Đ, sinh năm 1992; địa chỉ: Tổ G, ấp V, xã V, huyện T, tỉnh An Giang; có yêu cầu giải quyết vắng mặt
NỘI DUNG VIỆC LAO ĐỘNG:
- Theo đơn yêu cầu giải quyết việc lao động và lời khai trong quá trình giải quyết bà Châu Thị Lý N trình bày:
Trước đây, bà N có làm tại Công ty C và tham gia bảo hiểm xã hội số 4706062762 từ tháng 5/2006 đến tháng 4/2010 (Đã hưởng bảo hiểm xã hội một lần vào ngày 18/5/2011). Sau đó, bà N tiếp tục làm cho Công ty TNHH T và Công ty TNHH G. Tại hai công ty này bà N đều tham gia bảo hiểm xã hội với số sổ 7409177683.
Bà N làm thủ tục rút bảo hiểm xã hội thì được thông báo số sổ bảo hiểm xã hội 7409177683 mang tên Châu Thị Lý N, sinh năm 1988 đã được Công ty TNHH D đóng bảo hiểm xã hội từ tháng 5/2009 đến tháng 3/2011 (đã hưởng bảo hiểm xã hội một lần ngày 11/6/2012). Do bị trùng thời gian tham gia bảo hiểm xã hội nên bà N không rút bảo hiểm xã hội được. Lý do có sự trùng thời gian tham gia bảo hiểm trên là do bà N có cho bà Neang Chanh Đ (Bà Neang Chanh Đ là em họ của bà N) mượn chứng minh nhân dân để làm việc tại Công ty TNHH D. Do đó, bà N yêu cầu Tòa án tuyên bố hợp đồng lao động ký kết giữa bà Châu Thị Lý N với Công ty TNHH D vô hiệu toàn bộ, không yêu cầu xử lý hậu quả của hợp đồng vô hiệu.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Neang Chanh Đ trình bày:
Tháng 5/2009, bà Neang Chanh Đ có mượn có chứng minh nhân dân của bà Châu Thị Lý N để làm việc tại Công ty TNHH D và tham gia bảo hiểm xã hội từ tháng 5/2009 đến tháng 3/2011 (hưởng bảo hiểm xã hội một lần vào ngày 11/6/2012). Do đó, bà Neang Chanh Đ thống nhất với yêu cầu của bà Châu Thị Lý N.
- Người đại diện hợp pháp của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan - Bảo hiểm xã hội thành phố T, tỉnh Bình Dương (viết tắt là BHXH) trình bày: Qua kiểm tra đối chiếu dữ liệu của bà Châu Thị Lý N, sinh ngày 15/4/1988, số CCCD xxxxxxxxxxxx được Công ty TNHH D tham gia BHXH, bảo hiểm y tế (BHYT), bảo hiểm thất nghiệp (BHTN), bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp (BHTNLĐ-BNN), với mã số BHXH 7409177683 từ tháng 5/2009 đến tháng 3/2011. Đã hưởng BHXH một lần theo Quyết định số 06244 ngày 11/6/2012, chưa hưởng trợ cấp BHTN thời gian tham gia từ tháng 5/2009 đến tháng 3/2011, đã hưởng chế độ ốm đau số tiền là 82.363 đồng. Bảo hiểm xã hội thành phố T, tỉnh Bình Dương không có ý kiến, đề nghị giải quyết theo quy định của pháp luật.
- Đại diện hợp pháp của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan - Công ty TNHH D trình bày:
Qua kiểm tra, rà soát người lao động Châu Thị Lý N, sinh ngày 15/4/1988, số CCCD xxxxxxxxxxxx, làm việc tại Công ty TNHH D từ tháng 5/2009 đến tháng 3/2011 thì nghỉ việc. Công ty đã đóng bảo hiểm xã hội cho bà Châu Thị Lý N với sổ bảo hiểm xã hội là 7409177683 tại bảo hiểm xã hội tỉnh Bình Dương Enterprise từ tháng 5/2009 đến tháng 3/2011.
Lúc nộp hồ sơ xin việc tại công ty nhận thấy, hồ sơ xin việc của bà N hợp lệ nên Công ty đã nhận bà N vào làm việc. Do hình ảnh trên chứng minh nhân dân chụp đã lâu nên nhân sự tại thời điểm đó không nhận biết sự khác nhau. Bên cạnh đó, Công ty đã trải qua nhiều đời nhân sự nên đã thất lạc hồ sơ trong đó có hợp đồng lao động của bà N. Do đó, Công ty TNHH D đồng ý với yêu cầu của bà N tuyên bố hợp đồng lao động trên là vô hiệu.
- Ý kiến của Kiểm sát viên tham gia phiên họp:
Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Trong quá trình giải quyết việc lao động Thẩm phán và Thư ký đã thực hiện đúng trình tự thủ tục quy định tại Bộ luật Tố tụng Dân sự. Người yêu cầu, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự.
Về việc giải quyết việc dân sự: Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc lao động, đã được xem xét tại phiên họp, nhận thấy yêu cầu tuyên bố hợp đồng lao động giữa bà Châu Thị Lý N và Công ty TNHH D (Thời gian làm việc từ tháng 05/2009 đến tháng 3/2011) bị vô hiệu của người yêu cầu bà Châu Thị Lý N là có căn cứ nên đề nghị Tòa án chấp nhận.
Những yêu cầu, kiến nghị để khắc phục vi phạm về tố tụng: Không có.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ được thẩm tra tại phiên họp, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát, Tòa án nhân dân thành phố Tân Uyên, tỉnh Bình Dương nhận định:
[1] Về việc vắng mặt của những người tham gia tố tụng: Người yêu cầu; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt. Do đó, Tòa án tiến hành phiên họp vắng mặt các đương sự nói trên theo khoản 2, khoản 3 Điều 367 của Bộ luật Tố tụng Dân sự.
[2] Về nội dung:
[2.1] Quá trình tố tụng các đương sự khai thống nhất: Trong thời gian từ tháng 05/2009 đến tháng 3/2011, Châu Thị Lý N, sinh ngày 15/4/1988, số CCCD xxxxxxxxxxxx được Công ty TNHH D tham gia BHXH, bảo hiểm y tế (BHYT), bảo hiểm thất nghiệp (BHTN), bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp (BHTNLĐ-BNN), với mã số BHXH 7409177683 từ tháng 5/2009 đến tháng 3/2011. Đã xác nhận quá trình đóng BHXH, BHTN, BHTNLĐ-BNN. Đã hưởng BHXH một lần theo Quyết định số 06244 ngày 11/6/2012, chưa hưởng trợ cấp BHTN thời gian tham gia từ tháng 5/2009 đến tháng 3/2011, đã hưởng chế độ ốm đau số tiền là 82.363 đồng. Quan hệ lao động giữa Công ty TNHH D và bà Châu Thị Lý N phát sinh từ hợp đồng lao động từ tháng 5/2009 đến tháng 3/2011. Tuy nhiên, bà N và bà Neang Chanh Đ thừa nhận người ký hợp đồng lao động với Công ty TNHH D và thực tế làm việc tại công ty là bà Neang Chanh Đ chứ không phải bà N. Do bà Neang Chanh Đ mượn chứng minh nhân dân và ký hợp đồng lao động để đi làm việc. Trình bày của bà N và bà Neang Chanh Đ phù hợp với hồ sơ bảo hiểm xã hội, cụ thể trong thời gian từ tháng 5/2009 đến tháng 3/2011 bà N có quá trình tham gia bảo hiểm xã hội tại Công ty TNHH D và Công ty C. Sau đó, bà N tiếp tục làm cho Công ty TNHH T và Công ty TNHH G.
[2.2] Xét thấy, việc bà Neang Chanh Đ sử dụng chứng minh nhân dân của bà N để giao kết hợp đồng lao động với Công ty TNHH D là hành vi gian dối. Hành vi trên đã vi phạm nguyên tắc tự nguyện, bình đẳng, thiện chí, hợp tác và trung thực khi xác lập quan hệ lao động theo quy định tại khoản 1 Điều 15 của Bộ luật Lao động, vi phạm nghĩa vụ cung cấp thông tin theo quy định tại khoản 2 Điều 16 của Bộ luật Lao động nên thuộc trường hợp hợp đồng lao động vô hiệu toàn bộ theo khoản 1 Điều 49 của Bộ luật Lao động.
[2.3] Quá trình làm việc, Bảo hiểm xã hội thành phố T, tỉnh Bình Dương đã cung cấp thông tin về thời gian đóng bảo hiểm xã hội của bà N bị trùng từ tháng 5/2009 đến tháng 3/2011. Do đó, bà N yêu cầu tuyên bố hợp đồng lao động được ký kết giữa Công ty TNHH D với bà N từ tháng 5/2009 đến tháng 3/2011 vô hiệu là có cơ sở chấp nhận.
[3] Về hậu quả của hợp đồng vô hiệu: Các đương sự xác định không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét. Sau khi Quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật, người lao động có quyền liên hệ cơ quan Bảo hiểm xã hội để được giải quyết các chế độ bảo hiểm xã hội theo quy định.
[4] Các bên có quyền và nghĩa vụ liên hệ cơ quan có thẩm quyền để thực hiện các thủ tục liên quan đến bảo hiểm theo quy định của pháp luật.
[5] Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát về nội dung việc lao động, các thủ tục tố tụng, quá trình tiến hành tố tụng cũng như diễn biến tại phiên họp là phù hợp với quy định của pháp luật.
[6] Về lệ phí: Bà Châu Thị Lý N phải chịu theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ các Điều 33, 39, 149, 367, 401, 402 của Bộ luật Tố tụng Dân sự;
- Căn cứ các Điều 15, 16, 49, 50 và 51 của Bộ luật Lao động;
- Căn cứ Điều 37 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu giải quyết việc lao động của bà Châu Thị Lý N.
Tuyên bố hợp đồng lao động giữa bà Châu Thị Lý N, sinh năm 1988; địa chỉ: ấp B, xã T, huyện T, tỉnh Sóc Trăng với Công ty TNHH D trong thời gian làm việc từ tháng 5/2009 đến tháng 3/2011 bị vô hiệu.
Các bên có quyền và nghĩa vụ liên hệ cơ quan có thẩm quyền để thực hiện các thủ tục liên quan đến bảo hiểm theo quy định của pháp luật.
2. Lệ phí sơ thẩm giải quyết việc lao động: Bà Châu Thị Lý N phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng), được khấu trừ tiền tạm ứng đã nộp theo biên lai thu số 0005227 ngày 16/4/2025 của Chi cục Thi hành án Dân sự thành phố Tân Uyên, tỉnh Bình Dương.
3. Người yêu cầu, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến việc giải quyết việc dân sự có quyền kháng cáo quyết định này trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày nhận được quyết định. Viện kiểm sát cùng cấp có quyền kháng nghị quyết định này trong thời hạn 10 ngày, Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp có quyền kháng nghị trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày Tòa án ra quyết định.
4. Trong trường hợp quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự./.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Bình Dương; - VKSND thành phố Tân Uyên; - Chi cục THADS thành phố Tân Uyên; - Các đương sự; - Lưu: HS. | TM. HỘI ĐỒNG GIẢI QUYẾT VIỆC LAO ĐỘNG THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN HỌP Ngô Thị Mỹ Trúc |