vanban.org

Quyết định 46/2025/QĐST-VLĐ — Yêu cầu tuyên bố hợp đồng lao động, thỏa ước lao động tập thể vô hiệu

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Căn cứ khoản 1 Điều 33; điểm d khoản 2 Điều 35; điểm v khoản 2 Điều

39;Điều 146; Điều 149; Điều 361; Điều 366; Điều 367; Điều 370; Điều 371; Điều 372; Điều 401 và Điều 402 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Căn cứ khoản 1 Điều 17; khoản 2 Điều 19; Điều 50; Điều 51 và Điều 52 Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Yêu cầu tuyên bố hợp đồng lao động, thỏa ước lao động tập thể vô hiệu — án lao động — "Lý Thị Hồng"
  • Tòa quyết gì? Căn cứ khoản 1 Điều 33; điểm d khoản 2 Điều 35; điểm v khoản 2 Điều
  • Căn cứ chính? Điều 146 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 149 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 15 Bộ luật Lao động
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 16 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Số: 46/2025/QĐST-VLĐ
Thành phố Hồ Chí Minh, ngày 18 tháng 8 năm 2025

QUYẾT ĐỊNH

SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC LAO ĐỘNG

V/v yêu cầu tuyên bố hợp đồng lao động vô hiệu

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 16 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Thành phần giải quyết việc lao động gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Bà Trần Thị Hà

Thư ký phiên họp: Bà Chu Tường Vy- Thư ký Tòa án.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 16 - Thành phố Hồ Chí Minh

tham gia phiên họp:Bà Bùi Thị Xuân Tình - Kiểm sát viên.

Ngày 18 tháng 8 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân khu vực 16 - Thành phố

Hồ Chí Minh mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc lao động thụ lý số: 136/2025/TLST-VLĐ ngày 30 tháng 7 năm 2025 về việc “Yêu cầu tuyên bố hợp đồng lao động vô hiệu” theo Quyết định mở phiên họp sơ thẩm giải quyết việc lao động số:46/2025/QĐST- VLĐ ngày 11 tháng 8 năm 2025, gồm những người tham gia tố tụng sau đây:

- Người yêu cầu: Bà Lý Thị H, sinh năm 1990; thường trú: Ấp P, xã N, tỉnh

Cà Mau.

Người đại diện hợp pháp: bà Nguyễn Thị Hồng P, sinh năm 2002; thường

trú: xóm D, thôn T, xã T, tỉnh Quảng Ngãi; địa chỉ liên hệ: 144 bis N, khu phố Đ, phường L, Thành phố Hồ Chí Minh, có yêu cầu giải quyết vắng mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.

1. Công ty TNHH Q; địa chỉ: Khu phố Đ, phường B, thành phố Hồ Chí

Minh, vắng mặt.

2. Công ty TNHH J., L; địa chỉ: Khu phố Đ, phường B, thành phố Hồ Chí

Minh, vắng mặt.

3. Bảo hiểm xã hội Thành phố H cơ sở L; địa chỉ: Đường N, phường L,

thành phố Hồ Chí Minh; có yêu cầu giải quyết vắng mặt.

NỘI DUNG VIỆC LAO ĐỘNG:

- Theo đơn yêu cầu giải quyết việc lao động và lời khai trong quá trình tố

tụng người đại diện hợp pháp của người yêu cầu bà Nguyễn Thị Hồng P trình bày: Vào khoảng thời gian từ năm 2009 đến năm 2010 bà Lý Thị H ký hợp đồng lao động và làm việc tại công ty TNHH C; địa chỉ: KCN Đ, thành phố T, tỉnh Bình Dương và công ty có tham gia BHXH cho bà H tại công ty C. Vào năm 2025 bà H đi làm thủ tục để hưởng BHXH thì phát hiện cũng trong khoảng thời gian trên thông tin cá nhân của bà cùng lúc tham gia BHXH tại Công ty TNHH Q với mã số BHXH số: 7409322241 có thời gian tham gia BHXH từ tháng 12/2009 đến tháng 5/2010 và tham gia BHXH tại Công ty TNHH J., L với mã số BHXH số: 74 09102442 có thời gian tham gia BHXH từ tháng 11/2009 đến tháng 12/2009. Bà H xác định bà chỉ ký hợp đồng lao động và làm việc tại công ty TNHH C ngoài ra bà không ký hợp đồng lao động cũng không tham gia lao động tại Công ty TNHH Q và Công ty TNHH J., L1 Lý do gì thông tin cá nhân của bà lại được 2 công ty nêu trên thực hiện tham gia BHXH thì bà cũng không rõ. Do bà không tham gia thực hiện hợp đồng lao động tại Công ty TNHH Q và Công ty TNHH J., L nên đề nghị Tòa án nhân dân khu vực 16 – Thành phố Hồ Chí Minh tuyên bố hợp đồng lao động giữa bà Lý Thị H (do người khác thực hiện hợp đồng) với Công ty TNHH Q và Công ty TNHH J., L vô hiệu. Bà H không yêu cầu Tòa án giải quyết hậu quả khi tuyên hợp đồng vô hiệu.

- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan người đại diện hợp pháp của công

ty TNHH Q: Quá trình tố tụng Toà án đã thông báo thụ lý, triệu tập người đại diện hợp pháp của công ty TNHH Q có mặt tại Toà án nhân dân khu vực 16 – Thành phố Hồ Chí Minh để trình bày ý kiến đối với yêu cầu của bà Lý Thị H, tham gia phiên họp giải quyết việc lao động, tuy nhiên người đại diện hợp pháp của công ty TNHH Q vắng mặt không rõ lý do, không cung cấp tài liệu, chứng cứ.

- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan người đại diện hợp pháp của Công

ty TNHH J., L: Quá trình tố tụng Toà án đã thông báo thụ lý, triệu tập người đại diện hợp pháp của Công ty TNHH J., L có mặt tại Toà án nhân dân khu vực 16 – Thành phố Hồ Chí Minh để tự khai trình bày ý kiến đối với yêu cầu của bà Lý Thị H, tham gia phiên họp giải quyết việc lao động, tuy nhiên người đại diện hợp pháp của Công ty TNHH J., L vắng mặt không rõ lý do, không cung cấp tài liệu, chứng cứ.

- Người đại diện hợp pháp của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Bảo

hiểm xã hội Thành phố H (viết tắt là BHXH) ông Nguyễn Văn D trình bày: Qua kiểm tra đối chiếu dữ liệu tham gia BHXH đối với bà Lý Thị H, sinh năm 1990, số căn cước công dân: xxxxxxxxxxxx có quá trình tham gia BHXH như sau: Mã số: 9716014181 được công ty X, cục H1 tham gia BHXH từ tháng 4/2016 đến tháng 02/2024; Mã số: 7409322241 được công ty TNHH Q (Việt Nam) tham gia BHXH từ tháng 12/2009 đến tháng 05/2010; Mã số: 7409121898 được công ty TNHH Đ tham gia BHXH từ tháng 01/2009 đến tháng 3/2009; Mã số:7409296094 được công ty TNHH C tham gia BHXH từ tháng 11/2009 đến 03/2010; Mã số:7408217816 được công ty TNHH C tham gia BHXH từ tháng 08/2008 đến tháng 05/2009; Mã số: 7409102442 được Công ty TNHH J., L tham gia BHXH từ tháng 11/2009 đến tháng 12/2009. Về đề nghị yêu cầu tuyên bố hợp đồng lao động vô hiệu giữa bà Lý Thị H với công ty TNHH Q (Việt Nam) và Công ty TNHH J., L đề nghị Tòa án nhân dân khu vực 16 – Thành phố Hồ Chí Minh giải quyết theo quy định của pháp luật.

- Tại phiên họp, đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 16 – Thành phố

Hồ Chí Minh phát biểu ý kiến về việc giải quyết việc lao động và đề nghị: Quá trình tố tụng, Thẩm phán, Thư ký phiên họp và đương sự đã chấp hành theo đúng quy định của pháp luật. Về nội dung: Xét thấy, yêu cầu của bà Lý Thị H là có căn cứ, đề nghị Tòa án xem xét chấp nhận.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về thủ tục tố tụng: Người đại diện hợp pháp của người yêu cầu bà

Nguyễn Thị Hồng P và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Bảo hiểm xã hội Thành phố H có yêu cầu giải quyết vắng mặt, người đại diện hợp pháp của công ty TNHH Q và Công ty TNHH J., L vắng mặt không rõ lý do. Căn cứ Điều 367 Bộ luật Tố tụng Dân sự, Tòa án tiến hành phiên họp vắng mặt các đương sự.

Xem xét yêu cầu của đương sự:

Qua văn bản trả lời của cơ quan Bảo hiểm xã hội Thành phố H cơ sở

Lái Thiêu thể hiện, đối với thông tin họ tên bà Lý Thị H, sinh năm 1990, số căn cước công dân: xxxxxxxxxxxx có quá trình tham gia BHXH như sau: Mã số: 9716014181 được công ty X, cục H1 tham gia BHXH từ tháng 4/2016 đến tháng 02/2024; Mã số: 7409322241 được công ty TNHH Q (Việt Nam) tham gia BHXH từ tháng 12/2009 đến tháng 05/2010; Mã số: 7409121898 được công ty TNHH Đ tham gia BHXH từ tháng 01/2009 đến tháng 3/2009; Mã số:7409296094 được công ty TNHH C tham gia BHXH từ tháng 11/2009 đến 03/2010; Mã số:7408217816 được công ty TNHH C tham gia BHXH từ tháng 08/2008 đến tháng 05/2009; Mã số: 7409102442 được Công ty TNHH J., L tham gia BHXH từ tháng 11/2009 đến tháng 12/2009.

Xét thấy, dữ liệu trên cho thấy trong cùng một thời điểm (tháng

11/2009 đến tháng 5/2010), hệ thống BHXH ghi nhận bà H vừa tham gia tại công ty TNHH C vừa có tên tham gia tại công ty TNHH Q (Việt Nam) cũng có tên tham gia BHXH tại Công ty TNHH J., L, ngoài ra, còn có tên tham gia BHXH của công ty TNHH Đ, trong khi bà H khai thực tế chỉ làm việc tại công ty TNHH C. Như vậy, có căn cứ xác định thông tin tham gia BHXH tại Công ty TNHH J., L và công ty TNHH Q (Việt Nam) là không phù hợp với thực tế, ảnh hưởng trực tiếp đến quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn.

Theo khoản 1 Điều 17 của Bộ luật Lao động năm 2012 và khoản 1 Điều 15

của Bộ luật Lao động năm 2019, quy định về nguyên tắc giao kết hợp đồng lao động: “Tự nguyện, bình đẳng, thiện chí, hợp tác và trung thực”. Theo quy định về nghĩa vụ cung cấp thông tin khi giao kết hợp đồng lao động tại khoản 2 Điều 19 của Bộ luật Lao động năm 2012, thì: “Người lao động phải cung cấp thông tin cho người sử dụng lao động về họ tên, tuổi, giới tính, nơi cư trú, trình độ học vấn, trình độ kỹ năng nghề, tình trạng sức khoẻ và vấn đề khác liên quan trực tiếp đến việc giao kết hợp đồng lao động mà người sử dụng lao động yêu cầu” và khoản 2 Điều 16 của Bộ luật Lao động năm 2019, thì: “Người lao động phải cung cấp thông tin trung thực cho người sử dụng lao động về họ tên, ngày tháng năm sinh, giới tính, nơi cư trú, trình độ học vấn, trình độ kỹ năng nghề, xác nhận tình trạng sức khỏe và vấn đề khác liên quan trực tiếp đến việc giao kết hợp đồng lao động mà người sử dụng lao động yêu cầu”. Theo quy định về hợp đồng lao động vô hiệu tại điểm b khoản 1 Điều 50 của Bộ luật Lao động năm 2012, thì: “Người ký kết hợp đồng lao động không đúng thẩm quyền” và điểm b khoản 1 Điều 49 của Bộ luật Lao động năm 2019, thì: “Người giao kết hợp đồng lao động không đúng thẩm quyền hoặc vi phạm nguyên tắc giao kết hợp đồng lao động quy định tại khoản 1 Điều 15 của Bộ luật này”. Theo hướng dẫn tại Công văn số 1767/LĐTBXH-BHXH ngày 31/5/2022 về việc người lao động mượn hồ sơ của người khác để giao kết hợp đồng lao động của Bộ L2 thì: “…Trường hợp người lao động mượn hồ sơ của người khác để giao kết hợp đồng lao động là hành vi vi phạm nguyên tắc “trung thực” theo quy định tại khoản 1 Điều 15 của Bộ luật Lao động và vi phạm nghĩa vụ cung cấp thông tin khi giao kết hợp đồng lao động theo quy định tại khoản 2 Điều 16 của Bộ luật Lao động. Căn cứ quy định tại điểm b khoản 1 Điều 49 của Bộ luật Lao động đây là trường hợp hợp đồng lao động vô hiệu toàn bộ…”. Do đó, có cơ sở xác định người tham gia ký kết hợp đồng lao động và thực hiệp hợp đồng lao động dưới tên Lý Thị H tại Công ty TNHH J., L và công ty TNHH Q (Việt Nam) không phải là bà Lý Thị H. Nên việc công ty TNHH J., L tham gia BHXH cho bà H với mà BHXH số: 7409102442 và công ty TNHH Q (Việt Nam) tham gia BHXH cho bà Hồng M: Mã số: 7409322241 là không đúng là không đúng thực tế nên đã vi phạm nguyên tắc “trung thực” trong giao kết hợp đồng lao động, đây là trường hợp hợp đồng lao động vô hiệu toàn bộ.

Từ những nhận định trên, có căn cứ chấp nhận yêu cầu tuyên bố Hợp

đồng lao động từ tháng 12/2009 đến tháng 05/2010 giữa bà Lý Thị H với người sử dụng lao động là công ty TNHH Q (Việt Nam) theo BHXH số 7409322241 và Hợp đồng lao động từ tháng 11/2009 đến tháng 12/2009 giữa bà Lý Thị H với người sử dụng lao động là công ty TNHH J., L theo BHXH số 7409102442 vô hiệu toàn bộ.

Tại khoản 5 Điều 402 của Bộ luật Tố tụng Dân sự quy định về xem

xét yêu cầu tuyên bố hợp đồng lao động vô hiệu, thỏa ước lao động tập thể vô hiệu: “Tòa án phải giải quyết hậu quả pháp lý của việc tuyên bố hợp đồng lao động vô hiệu", chấp nhận yêu cầu của bà H và ý kiến của bà về việc xác định người lao động tại công ty TNHH Q (Việt Nam) và người lao động tại công ty TNHH J., L không phải là bà Lý Thị H. Bà H có quyền liên hệ cơ quan bảo hiểm xã hội có thẩm quyền để cải chính thông tin.

Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát về nội dung việc lao động, các thủ

tục tố tụng, quá trình tiến hành tố tụng cũng như diễn biến tại phiên họp là phù hợp với quy định của pháp luật.

Về lệ phí: Bà Lý Thị H phải chịu 300.000đ (ba trăm nghìn đồng).

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ khoản 1 Điều 33; điểm d khoản 2 Điều 35; điểm v khoản 2 Điều

39;Điều 146; Điều 149; Điều 361; Điều 366; Điều 367; Điều 370; Điều 371; Điều 372; Điều 401 và Điều 402 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

- Căn cứ khoản 1 Điều 17; khoản 2 Điều 19; Điều 50; Điều 51 và Điều 52

của Bộ luật Lao động năm 2012;

- Căn cứ khoản 1 Điều 15; khoản 2 Điều 16; Điều 49; Điều 50 và Điều 51

của Bộ luật Lao động năm 2019;

- Căn cứ Điều 37 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016

của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu giải quyết việc lao động của bà Lý Thị H.

- Tuyên bố Hợp đồng lao động từ tháng 12/2009 đến tháng 05/2010 giữa

bà Lý Thị H với người sử dụng lao động là công ty TNHH Q (Việt Nam) theo BHXH số 7409322241 và Hợp đồng lao động từ tháng 11/2009 đến tháng 12/2009 giữa bà Lý Thị H với người sử dụng lao động là công ty TNHH J., L theo BHXH số 7409102442 vô hiệu toàn bộ.

2. Lệ phí sơ thẩm giải quyết việc lao động: Bà Lý Thị H phải chịu 300.000đ

(ba trăm nghìn đồng), được khấu trừ tiền tạm ứng đã nộp theo biên lai thu số 0005535 ngày 25/7/2025 của Thi hành án Dân sự thành phố Hồ Chí Minh.

3. Người yêu cầu, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng

cáo trong thời hạn 10 (mười) ngày, kể từ ngày nhận được quyết định hoặc kể từ ngày quyết định được thông báo, niêm yết. Viện kiểm sát cùng cấp có quyền kháng nghị quyết định giải quyết trong thời hạn 10 (mười) ngày, Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp có quyền kháng nghị trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày Tòa án ra quyết định.

Trường hợp Quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi

hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ