- Tranh chấp gì? Yêu cầu tuyên bố hợp đồng lao động, thỏa ước lao động tập thể vô hiệu — án lao động — "Huỳnh Thị Phượng Liên"
- Tòa quyết gì? của Bộ luật Lao động năm 2012;
- Căn cứ chính? Điều 146 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 149 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 15 Bộ luật Lao động
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 16 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH Số: 45/2025/QĐST-VLĐ | Thành phố Hồ Chí Minh, ngày 18 tháng 8 năm 2025 |
QUYẾT ĐỊNH
SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC LAO ĐỘNG
V/v yêu cầu tuyên bố hợp đồng lao động vô hiệu
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 16 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Thành phần giải quyết việc lao động gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Bà Trần Thị Hà
Thư ký phiên họp: Bà Chu Tường Vy- Thư ký Tòa án.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 16 - Thành phố Hồ Chí Minh
tham gia phiên họp:Bà Bùi Thị Xuân Tình - Kiểm sát viên.
Ngày 18 tháng 8 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân khu vực 16 - Thành phố
Hồ Chí Minh mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc lao động thụ lý số: 135/2025/TLST-VLĐ ngày 30 tháng 7 năm 2025 về việc “Yêu cầu tuyên bố hợp đồng lao động vô hiệu” theo Quyết định mở phiên họp sơ thẩm giải quyết việc lao động số:46/2025/QĐST- VLĐ ngày 11 tháng 8 năm 2025, gồm những người tham gia tố tụng sau đây:
- Người yêu cầu: Bà Huỳnh Thị Phượng L, sinh năm 1991; thường trú: Ấp
T, xã T, huyện C, tỉnh An Giang (nay là ấp T, xã T, tỉnh An Giang), có yêu cầu giải quyết vắng mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Bà Dương Thị Thu H, sinh năm 1998; thường trú: Ấp P, xã Đ, huyện T,
tỉnh An Giang (nay là ấp P, xã Đ, tỉnh An Giang), có yêu cầu giải quyết vắng mặt.
2. Công ty TNHH H1; địa chỉ: Khu S, phường A, thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện hợp pháp là ông: S, quốc tịch Trung Quốc; theo giấy ủy quyền ngày 02/05/2025; có yêu cầu giải quyết vắng mặt.
3. Bảo hiểm xã hội Thành phố H1 cơ sở H1; địa chỉ: Đường N, phường L,
thành phố Hồ Chí Minh, người đại diện hợp pháp: Ông Nguyễn Văn D, có yêu cầu giải quyết vắng mặt.
NỘI DUNG VIỆC LAO ĐỘNG:
- Theo đơn yêu cầu giải quyết việc lao động và lời khai trong quá trình tố
tụng bà Huỳnh Thị Phượng L trình bày:Trong khoảng thời gian từ tháng 07/2010 đến tháng 07/2012, bà Huỳnh Thị Phượng L làm việc tại Công ty TNHH P1; địa chỉ: thửa số 66, tờ bản đồ số B4 (DC15) khu phố B, phường T, thành phố T, tỉnh Bình Dương và tham gia bảo hiểm xã hội với mã số 7410222094. Đối với thời gian tham gia BHXH trên bà L đã được nhận BHXH một lần. Ngoài ra, từ tháng 09/2013 đến tháng 08/2023 bà Huỳnh Thị P Liên tiếp tục làm việc tại Công ty TNHH P1 và được công ty tham gia BHXH với mã số: 7413244875. Khoảng tháng 6/2025, bà L đi làm thủ tục hưởng bảo hiểm tại Bảo hiểm xã hội thì được biết đã bị trùng thời gian đóng bảo hiểm trong khoảng thời gian từ tháng 06/2010 đến tháng 8/2010. Nguyên nhân là do vào tháng 06/2010 bà L cho bà Dương Thị Thu H mượn chứng minh nhân dân để làm việc tại Công ty TNHH H1. Quá trình làm việc, bà H được Công ty TNHH H1 tham gia bảo hiểm xã hội với mã số sổ bảo hiểm là 7410194067 (dưới tên là Huỳnh Thị Phượng L). Vì thiếu hiểu biết, nên bà đã cho bà H mượn chứng minh nhân dân của mình để ký kết hợp đồng lao động với Công ty TNHH H1. Vì vậy, nay bà L yêu cầu Tòa án tuyên bố hợp đồng lao động giữa bà Huỳnh Thị Phượng L và Công ty TNHH H1 là vô hiệu. Bà L không yêu cầu Tòa án giải quyết hậu quả khi tuyên hợp đồng vô hiệu.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Dương Thị Thu H lời khai
trong quá trình tố tụng bà H trình bày: Bà và bà L có quen biết nhau, Khoảng tháng 06/2010, do bà chưa đủ tuổi để giao kết hợp đồng lao động nên đã mượn chứng minh nhân dân của bà L để xin vào làm việc tại Công ty TNHH H1 và Công ty đã tham gia đóng bảo hiểm xã hội cho bà từ tháng 6/2010 đến tháng 8/2010 với số sổ bảo hiểm xã hội là 7410194067. Nay bà H thống nhất toàn bộ yêu cầu của bà L và đề nghị Tòa án tuyên bố hợp đồng lao động giữa bà (dưới tên là Huỳnh Thị Phượng L) với Công ty TNHH H1 vô hiệu. Bà cũng không yêu cầu gì liên quan đến bảo hiểm trong trường hợp Tòa án chấp nhận yêu cầu của bà L, bà H cũng không yêu cầu giải quyết hậu quả của hợp đồng vô hiệu.
- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan Công ty TNHH H1 có văn bản ý
kiến: Công ty TNHH H1 luôn tuân thủ quy định pháp luật lao động của Việt Nam, đặc biệt là việc giao kết hợp đồng lao động với người lao động luôn thực hiện đúng theo quy định của pháp luật. Việc người lao động tự ý cho người khác mượn hồ sơ cá nhân lao động sau đó vào công ty để làm việc là việc người lao động làm trái quy định của pháp luật lao động, cung cấp không trung thực thông tin cho công ty nhằm giao kết hợp đồng lao động với công ty. Việc này hoàn toàn không phải lỗi của Công ty. Nay bà Huỳnh Thị Phượng L yêu cầu tuyên bố hợp đồng lao động giữa bà là Huỳnh Thị Phượng L và Công ty TNHH H1 vô hiệu thì Công ty chấp nhận yêu cầu của bà L.
- Người đại diện hợp pháp của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Bảo
hiểm xã hội Thành phố H1 (viết tắt là BHXH) ông Nguyễn Văn D trình bày: Qua kiểm tra đối chiếu dữ liệu tham gia BHXH, bảo hiểm y tế (BHYT), bảo hiểm thất nghiệp (BHTN) của Công ty TNHH H1 cho người lao động thì Công ty có tham gia BHXH, BHYT, BHTN cho bà Huỳnh Thị Phượng L, sinh năm 1991, số CCCD xxxxxxxxxxxx, với mã số BHXH 7410194067 có quá trình tham gia BHXH, BHYT, BHTN từ tháng 06/2010 đến tháng 08/2010 tại Công ty TNHH H1 chưa nhận trợ cấp BHXH một lần. Ngoài ra qua tra cứu dữ liệu, Bảo hiểm xã hội Thành phố H1 còn phát hiện bà Huỳnh Thị Phượng L còn có mã số 7410222094 từ tháng 7/2010 đến tháng 7/2012 tại Công ty TNHH P1 và đã hưởng bảo hiểm xã hội một lần. Về đề nghị yêu cầu tuyên bố hợp đồng lao động vô hiệu giữa bà Huỳnh Thị Phượng L và Công ty TNHH H1 đề nghị Tòa án nhân dân khu vực 16 – Thành phố Hồ Chí Minh giải quyết theo quy định của pháp luật.
- Tại phiên họp, đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 16 – Thành phố
Hồ Chí Minh phát biểu ý kiến về việc giải quyết việc lao động và đề nghị: Quá trình tố tụng, Thẩm phán, Thư ký phiên họp và đương sự đã chấp hành theo đúng quy định của pháp luật. Về nội dung: Xét thấy, yêu cầu của bà Huỳnh Thị P Liên là có căn cứ, đề nghị Tòa án xem xét chấp nhận.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Về thủ tục tố tụng: Người yêu cầu bà Huỳnh Thị Phượng L; người có
quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Dương Thị Thu H, Công ty TNHH Hài Mỹ Nhà máy Sài Gòn và Bảo hiểm xã hội Thành phố H1 cơ sở H1 có yêu cầu giải quyết vắng mặt. Căn cứ Điều 367 Bộ luật Tố tụng Dân sự, Tòa án tiến hành phiên họp vắng mặt các đương sự.
Xem xét yêu cầu của đương sự:
Qua văn bản trả lời của cơ quan Bảo hiểm xã hội Thành phố H1 cơ sở
Lái Thiêu thể hiện, đối với thông tin họ tên Huỳnh Thị Phượng L, sinh năm 1991, số CMND xxxxxxxxx, số CCCD xxxxxxxxxxxx có quá trình tham gia bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp tại các mã số: 7410222094 tại Công ty TNHH P1 từ tháng 07/2010 đến tháng 07/2012 đã hưỡng trợ cấp một lần; ngoài ra, còn có mã số sổ 7410194067 tham gia BHXH tại Công ty TNHH H1 từ tháng tháng 6/2010 đến tháng 8/2010. Dữ liệu tra cứu trong công văn còn thể hiện bà L có quá trình tham gia BHXH với mã số 7410222094 cũng tại Công ty TNHH P1 từ tháng 09/2013 đến 08/2023.
Xét thấy, dữ liệu trên cho thấy trong cùng một thời điểm (tháng 6/2010
đến tháng 8/2010), hệ thống BHXH ghi nhận bà L vừa tham gia tại Công ty TNHH P1 vừa có tên tham gia tại Công ty TNHH H1, trong khi bà L khai thực tế vẫn làm việc tại Công ty TNHH P1. Như vậy, có căn cứ xác định thông tin tham gia BHXH tại hai Công ty TNHH H1 và Công ty TNHH P1 là không phù hợp với thực tế, ảnh hưởng trực tiếp đến quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn.
Theo khoản 1 Điều 17 của Bộ luật Lao động năm 2012 và khoản 1 Điều 15
của Bộ luật Lao động năm 2019, quy định về nguyên tắc giao kết hợp đồng lao động: “Tự nguyện, bình đẳng, thiện chí, hợp tác và trung thực”. Theo quy định về nghĩa vụ cung cấp thông tin khi giao kết hợp đồng lao động tại khoản 2 Điều 19 của Bộ luật Lao động năm 2012, thì: “Người lao động phải cung cấp thông tin cho người sử dụng lao động về họ tên, tuổi, giới tính, nơi cư trú, trình độ học vấn, trình độ kỹ năng nghề, tình trạng sức khoẻ và vấn đề khác liên quan trực tiếp đến việc giao kết hợp đồng lao động mà người sử dụng lao động yêu cầu” và khoản 2 Điều 16 của Bộ luật Lao động năm 2019, thì: “Người lao động phải cung cấp thông tin trung thực cho người sử dụng lao động về họ tên, ngày tháng năm sinh, giới tính, nơi cư trú, trình độ học vấn, trình độ kỹ năng nghề, xác nhận tình trạng sức khỏe và vấn đề khác liên quan trực tiếp đến việc giao kết hợp đồng lao động mà người sử dụng lao động yêu cầu”. Theo quy định về hợp đồng lao động vô hiệu tại điểm b khoản 1 Điều 50 của Bộ luật Lao động năm 2012, thì: “Người ký kết hợp đồng lao động không đúng thẩm quyền” và điểm b khoản 1 Điều 49 của Bộ luật Lao động năm 2019, thì: “Người giao kết hợp đồng lao động không đúng thẩm quyền hoặc vi phạm nguyên tắc giao kết hợp đồng lao động quy định tại khoản 1 Điều 15 của Bộ luật này”. Theo hướng dẫn tại Công văn số 1767/LĐTBXH-BHXH ngày 31/5/2022 về việc người lao động mượn hồ sơ của người khác để giao kết hợp đồng lao động của Bộ L1 thì: “…Trường hợp người lao động mượn hồ sơ của người khác để giao kết hợp đồng lao động là hành vi vi phạm nguyên tắc “trung thực” theo quy định tại khoản 1 Điều 15 của Bộ luật Lao động và vi phạm nghĩa vụ cung cấp thông tin khi giao kết hợp đồng lao động theo quy định tại khoản 2 Điều 16 của Bộ luật Lao động. Căn cứ quy định tại điểm b khoản 1 Điều 49 của Bộ luật Lao động đây là trường hợp hợp đồng lao động vô hiệu toàn bộ…”. Do đó, có cơ sở xác định việc bà H mượn hồ sơ cá nhân của bà L để giao kết hợp đồng lao động và tham gia bảo hiểm xã hội theo sổ BHXH số 7410194067 từ tháng 06/2010 đến tháng 08/2010 tại Công ty TNHH H1 là hành vi vi phạm nguyên tắc “trung thực” và vi phạm nghĩa vụ cung cấp thông tin khi giao kết hợp đồng lao động, đây là trường hợp hợp đồng lao động vô hiệu toàn bộ.
Từ những nhận định trên, có căn cứ chấp nhận yêu cầu tuyên bố Hợp
đồng lao động từ tháng 06/2010 đến tháng 08/2010 giữa bà Huỳnh Thị Phượng L (do bà Dương Thị Thu H) với người sử dụng là Công ty TNHH H1 theo BHXH số 7410194067 bị vô hiệu.
Tại khoản 5 Điều 402 của Bộ luật Tố tụng Dân sự quy định về xem
xét yêu cầu tuyên bố hợp đồng lao động vô hiệu, thỏa ước lao động tập thể vô hiệu: “Tòa án phải giải quyết hậu quả pháp lý của việc tuyên bố hợp đồng lao động vô hiệu", chấp nhận yêu cầu của bà L và ý kiến của bà về việc xác định người lao động tại Công ty TNHH H1 không phải là bà Huỳnh Thị Phượng L. Bà L và bà H có quyền liên hệ cơ quan bảo hiểm xã hội có thẩm quyền để cải chính thông tin.
Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát về nội dung việc lao động, các thủ
tục tố tụng, quá trình tiến hành tố tụng cũng như diễn biến tại phiên họp là phù hợp với quy định của pháp luật.
Về lệ phí: Bà Huỳnh Thị Phượng L phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn)
đồng.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ khoản 1 Điều 33; điểm d khoản 2 Điều 35; điểm v khoản 2 Điều 39;
Điều 146; Điều 149; Điều 361; Điều 366; Điều 367; Điều 370; Điều 371; Điều 372; Điều 401 và Điều 402 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
- Căn cứ khoản 1 Điều 17; khoản 2 Điều 19; Điều 50; Điều 51 và Điều 52
của Bộ luật Lao động năm 2012;
- Căn cứ khoản 1 Điều 15; khoản 2 Điều 16; Điều 49; Điều 50 và Điều 51
của Bộ luật Lao động năm 2019;
- Căn cứ Điều 37 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016
của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu giải quyết việc lao động của bà Huỳnh Thị
Phượng L.
- Tuyên bố Hợp đồng lao động giữa bà Huỳnh Thị Phượng L với người sử
dụng là Công ty TNHH H1 trong khoảng thời gian làm từ tháng 06/2010 đến tháng 08/2010 bị vô hiệu.
- Xác định người lao động theo sổ bảo hiểm xã hội số 7410222094 là bà
Huỳnh Thị Phượng L, sinh năm 1991, giới tính: Nữ, quốc tịch: Việt Nam, số căn cước công dân xxxxxxxxxxxx. Bà Huỳnh Thị Phượng L được quyền liên hệ với H1 có thẩm quyền để tiến hành thủ tục cải chính thông tin bảo hiểm xã hội số 7410194067.
2. Lệ phí sơ thẩm giải quyết việc lao động: Bà Huỳnh Thị Phượng L phải
chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng, được khấu trừ tiền tạm ứng đã nộp theo biên lai thu số 0005607 ngày 25/7/2025 của Thi hành án Dân sự thành phố Hồ Chí Minh.
3. Người yêu cầu, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng
cáo trong thời hạn 10 (mười) ngày, kể từ ngày nhận được quyết định hoặc kể từ ngày quyết định được thông báo, niêm yết. Viện kiểm sát cùng cấp có quyền kháng nghị quyết định giải quyết trong thời hạn 10 (mười) ngày, Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp có quyền kháng nghị trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày Tòa án ra quyết định.
Trường hợp Quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi
hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND Thành phố Hồ Chí Minh; - VKSND khu vực 16, Thành phố Hồ Chí Minh; - THADS Thành phố Hồ Chí Minh; - Các đương sự; - Lưu văn thư, hồ sơ việc. | THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN HỌP Trần Thị Hà |