- Tranh chấp gì? Yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn... — án hôn nhân và gia đình — "Yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn giữa chị X và a H"
- Tòa quyết gì? Công nhận thuận tình ly hôn giữa chị Trần Thanh X và anh Hoàng Trọng H.
- Căn cứ chính? Điều 149 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 37 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 37 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NAM ĐỊNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 43/2019/QĐST-HNGĐ | Nam Định ngày 10 tháng 10 năm 2019 |
QUYẾT ĐỊNH
SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ
V/v: Yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NAM ĐỊNH
Thành phần giải quyết việc dân sự gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Bà Mai Thị Minh Hồng
Thư ký phiên họp: Ông Trịnh Văn Sơn - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Nam Định.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nam Định tham gia phiên họp: Ông Trần Trọng Dần - Kiểm sát viên.
Ngày 10 tháng 10 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Nam Định mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số 43/2019/TLST-HNGĐ ngày 17 tháng 9 năm 2019 về việc Yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn theo Quyết định mở phiên họp sơ thẩm giải quyết việc dân sự số 141/2019/QĐST-HNGĐ ngày 01 tháng 10 năm 2019, gồm những người tham gia tố tụng sau đây:
Người yêu cầu giải quyết việc dân sự:
- Chị Trần Thanh X, sinh năm 1986
ĐKHKTT: 3/52 phố X, phường T, thành phố N, tỉnh Nam Định.
Hiện đang đi xuất khẩu lao động tại Đài Loan.
Người đại diện theo ủy quyền của chị Trần Thanh X về việc nuôi dưỡng con chung: Bà An Thị T, sinh năm 1962
Hiện cư trú tại: 3/52 phố X, phường T, thành phố N, tỉnh Nam Định.
- Anh Hoàng Trọng H, sinh năm 1987
Hiện trú tại: 80 N, phường T, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế.
Tại phiên họp: Bà An Thị T: có mặt; chị Trần Thanh X, anh Hoàng Trọng H: có đơn xin giải quyết vắng mặt.
NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ:
Theo nội dung đơn yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn, tại bản tự khai, chị Trần Thanh X và anh Hoàng Trọng H đều trình bày: Anh chị tự do tìm hiểu, tự nguyện kết hôn và có đăng ký kết hôn vào ngày 11/01/2012 tại Ủy ban nhân dân phường C, thành phố N, tỉnh Nam Định.
Trong quá trình chung sống, vợ chồng thường xuyên xảy ra mâu thuẫn do tính tình không hợp, quan điểm sống khác nhau, không tìm được tiếng nói chung trong cuộc sống. Chị X đi xuất khẩu lao động tại Đài Loan còn anh H sinh sống tại tỉnh Thừa Thiên Huế; khoảng cách địa lý xa cách nên vợ chồng ít liên lạc với nhau và không còn quan tâm đến nhau. Đến nay, anh chị đều xác định tình cảm vợ chồng không còn, không thể hàn gắn, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, nên thống nhất ly hôn và đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Nam Định công nhận thuận tình ly hôn cho anh chị.
Về con chung: Trong quá trình chung sống, vợ chồng có 01 con chung là Hoàng Khánh L, sinh ngày 24/12/2013; hiện nay cháu đang sinh sống cùng ông bà ngoại, được học hành ổn định nên vợ chồng thỏa thuận chị X là người nuôi dưỡng con chung và anh H không phải cấp dưỡng nuôi con chung. Trong thời gian chị X đi lao động ở Đài Loan thì chị X ủy quyền cho mẹ đẻ là bà An Thị T trực tiếp nuôi dưỡng cháu Hoàng Khánh L.
Về tài sản chung, công nợ: Chị Trần Thanh X và anh Hoàng Trọng H không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại phiên họp sơ thẩm: Bà An Thị T vẫn nhất trí nhận sự ủy quyền của chị Trần Thanh X, có trách nhiệm thay chị X trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc và bảo đảm các điều kiện, quyền lợi chính đáng về mọi mặt cho cháu L trong thời gian chị X lao động tại Đài Loan.
Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nam Định:
Về thủ tục tố tụng: Thẩm phán, Thư ký đã thực hiện đúng theo quy định của pháp luật. Chị Trần Thanh X, anh Hoàng Trọng H đều có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt là phù hợp với quy định tại khoản 2 Điều 367 Bộ luật Tố tụng dân sự nên được chấp nhận.
Về nội dung: Chị X và anh H đều thống nhất xin ly hôn. Xét yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn của chị X, anh H là hoàn toàn tự nguyện nên được chấp nhận theo quy định tại Điều 55 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014. Về con chung: Công nhận sự thỏa thuận của chị X và anh H về việc giao con chung là Hoàng Khánh L cho chị X nuôi dưỡng và không yêu cầu anh H phải cấp dưỡng nuôi con chung. Trong thời gian chị X đi lao động tại Đài Loan thì mẹ đẻ chị là bà An Thị T trực tiếp nuôi dưỡng cháu L. Về lệ phí giải quyết việc dân sự: Chấp nhận sự tự nguyên của chị X nộp toàn bộ lệ phí theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp; ý kiến của các đương sự và đại diện Viện kiểm sát tại phiên họp, Tòa án nhân dân tỉnh Nam Định nhận định:
Về thủ tục tố tụng: Chị Trần Thanh X có đăng ký hộ khẩu tại 3/52 phố X, phường T, thành phố N, tỉnh Nam Định nhưng hiện đang đi xuất khẩu lao động tại Đài Loan; chị X và anh H có đơn thỏa thuận lựa chọn Tòa án để giải quyết việc yêu cầu về hôn nhân và gia đình cho vợ chồng nên căn cứ Điều 37, Điều 469 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 việc giải quyết yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Nam Định. Chị X và anh H vắng mặt nhưng đều có đơn xin giải quyết vắng mặt nên Tòa án vẫn tiến hành mở phiên họp theo quy định tại khoản 2 Điều 367 BLTTDS năm 2015.
Về quan hệ hôn nhân: Chị Trần Thanh X và anh Hoàng Trọng H có đăng ký kết hôn vào ngày 11/01/2012 tại Ủy ban nhân dân phường C, thành phố N, tỉnh Nam Định nên là hôn nhân hợp pháp. Chị X, anh Hiều đều trình bày tình cảm vợ chồng không còn do tính tình không hợp, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Xét yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn của chị X và anh H là tự nguyện, nên được chấp nhận theo quy định tại Điều 55 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
Về con chung: Trong quá trình chung sống, chị X và anh H có 01 con chung là cháu Hoàng Khánh L, sinh ngày 24/12/2013; hiện nay cháu đang sinh sống cùng ông bà ngoại, được học hành ổn định nên anh chị thỏa thuận chị X là người nuôi dưỡng con chung và anh H không phải cấp dưỡng nuôi con chung. Trong thời gian chị X đi lao động ở Đài Loan thì chị X ủy quyền cho mẹ đẻ là bà An Thị T trực tiếp nuôi dưỡng cháu L. Bà T cũng nhất trí với sự ủy quyền của chị X. Việc thỏa thuận của chị X và anh H là phù hợp với điều kiện thực tế, đảm bảo được quyền lợi chính đáng của con chung, nên được chấp nhận.
Về tài sản chung, công nợ: Chị X và anh H không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về lệ phí sơ thẩm: Chị X tự nguyện nộp toàn bộ.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ các Điều 55, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, khoản 2 Điều 149, các Điều 370, 371 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015; khoản 3 Điều 37 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Toà án,
1. Công nhận thuận tình ly hôn giữa chị Trần Thanh X và anh Hoàng Trọng H.
2. Công nhận sự thỏa thuận của chị Trần Thanh X và anh Hoàng Trọng H: Giao con chung là Hoàng Khánh L, sinh ngày 24/12/2013 cho chị X trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi đủ tuổi trưởng thành, có khả năng lao động, tự lập được và anh H không phải cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị X. Trong thời gian chị X đi lao động ở nước ngoài thì bà An Thị T có trách nhiệm thay chị X trực tiếp nuôi dưỡng cháu L.
Anh H có quyền thăm nom con mà không ai được cản trở, nhưng không được lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con của chị X và gia đình.
3. Lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự: Chị Trần Thanh X phải nộp 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) nhưng đối trừ với số tiền tạm ứng lệ phí 300.000 đồng mà chị X đã nộp theo Biên lai thu tiền số 0001712 ngày 17/9/2019 tại Cục Thi hành án Dân sự tỉnh Nam Định. Chị X đã nộp đủ lệ phí giải quyết việc dân sự.
4. Quyết định có hiệu lực pháp luật kể từ ngày 10/10/2019.
| Nơi nhận: - Các đương sự; - VKSND tỉnh Nam Định; - Cục THA DS tỉnh Nam Định; - UBND phường Cửa Bắc, TP Nam Định; - Lưu: VT, hồ sơ vụ việc. | THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN HỌP Mai Thị Minh Hồng |