vanban.org

Quyết định 42/2024/QĐST-LĐ — Yêu cầu tuyên bố hợp đồng lao động, thỏa ước lao động tập thể vô hiệu

TAND TX. Tân Uyên, tỉnh Bình Dương Tuyên án 16/08/2024 Lao động Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận toàn bộ yêu cầu giải quyết việc lao động của bà Ngô Thị Trúc H.

Tuyên bố hợp đồng lao động giữa người tên Ngô Thị Trúc H, sinh năm 1992, hộ khẩu thường trú: ấp Q, xã T, huyện V, thành phố Cần Thơ, số CMND xxxxxxxxx cấp ngày 22/05/2011 tại Công an thành phố C với Công ty TNHH G (Việt Nam), thời gian từ tháng 08/2011 đến tháng 03/2015 bị vô hiệu Các bên có quyền v… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Yêu cầu tuyên bố hợp đồng lao động, thỏa ước lao động tập thể vô hiệu — án lao động — "bà Ngô Thị Trúc H yêu cầu Tòa án tuyên bố Hợp đồng lao động vô hiệu"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận toàn bộ yêu cầu giải quyết việc lao động của bà Ngô Thị Trúc H.
  • Căn cứ chính? Điều 149 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 15 Bộ luật Lao động; Điều 16 Bộ luật Lao động
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ TÂN UYÊN
TỈNH BÌNH DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 42/2024/QĐST-LĐTân Uyên, ngày 16 tháng 8 năm 2024

QUYẾT ĐỊNH

SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC LAO ĐỘNG

V/v yêu cầu tuyên bố hợp đồng lao động vô hiệu

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TÂN UYÊN, TỈNH BÌNH DƯƠNG

Thành phần giải quyết việc lao động gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Ông Nguyễn Chữ Cần.

Thư ký phiên họp: Ông Nguyễn Trọng Nam - Thư ký Toà án.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tân Uyên, tỉnh Bình Dương tham gia phiên họp: Ông Phạm Văn Giáp - Kiểm sát viên.

Ngày 16 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Tân Uyên mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc lao động thụ lý số: 12/2024/TLST-VLĐ ngày 23 tháng 4 năm 2024 về việc “Yêu cầu tuyên bố hợp đồng lao động vô hiệu” theo Quyết định mở phiên họp sơ thẩm giải quyết việc lao động số: 12/2024/QĐST-LĐ ngày 31 tháng 7 năm 2024, gồm những người tham gia tố tụng sau đây:

- Người yêu cầu giải quyết việc lao động: Bà Ngô Thị Trúc H, sinh năm 1992; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Ấp Q, xã T, huyện V, thành phố Cần Thơ. Có yêu cầu giải quyết vắng mặt.

Người đại diện hợp pháp của bà Ngô Thị Trúc H: Bà Phạm Đỗ Thùy L, sinh năm 1979, thường trú: tổ A, khu phố P, phường T, thành phố T, tỉnh Bình Dương, là người đại diện ủy quyền (Văn bản ủy quyền ngày 01/4/2024). Có yêu cầu giải quyết vắng mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. Bà Ngô Thị Kim H1, sinh năm 1995; địa chỉ: Ấp Q, xã T, huyện V, thành phố Cần Thơ. Có yêu cầu giải quyết vắng mặt.

2. Công ty TNHH G (Việt Nam); địa chỉ: Đường số A, Khu dân cư V, khu phố P, phường T, thành phố T, tỉnh Bình Dương.

Người đại diện hợp pháp của Công ty TNHH G (Việt Nam): bà Nguyễn Thị Túy Q, là người đại diện theo pháp luật. Có yêu cầu giải quyết vắng mặt.

3. Bảo hiểm Xã hội thành phố T, tỉnh Bình Dương; địa chỉ: Đường Đ, khu phố E, phường U, thành phố T, tỉnh Bình Dương.

Người đại diện hợp pháp của Bảo hiểm Xã hội thành phố T: Ông Trương Thanh N, chức vụ: Giám đốc. Có yêu cầu giải quyết vắng mặt.

NỘI DUNG VIỆC LAO ĐỘNG:

- Theo đơn yêu cầu giải quyết việc lao động và lời khai trong quá trình giải quyết bà Ngô Thị Trúc H và người đại diện hợp pháp trình bày: Từ năm 2014, bà Ngô Thị Trúc H là công nhân của Công Ty TNHH T, địa chỉ Lô E, đường E, Khu công nghiệp L, phường L, thành phố B, tỉnh Đồng Nai và được Công ty thực hiện thủ tục Bảo hiểm xã hội theo quy định của pháp luật với số Bảo hiểm xã hội là 7414005448 do Bảo hiểm xã hội tỉnh Đ cấp ngày 13/3/2014. Đến tháng 5/2022, bà H nghỉ việc không lương, sau đó chấm dứt hợp đồng lao động với Công Ty TNHH T.

Khoảng tháng 6,7/2022, bà H đi làm thủ tục bảo hiểm xã hội để hưởng bảo hiểm thất nghiệp thì được Bảo hiểm xã hội huyện V, thành phố Cần Thơ thông báo bà H có 02 sổ bảo hiểm xã hội với 02 số khác nhau. Ngoài sổ bảo hiểm xã hội của Công ty TNHH T thì bà H còn 01 sổ Bảo hiểm xã hội do Công ty TNHH G (Việt Nam) đóng Bảo hiểm xã hội cho một người tên Ngô Thị Trúc H, có số CMND xxxxxxxxx và những thông tin nhân thân giống như của bà H. Nhưng thực tế tại thời điểm này bà H đang là Công nhân của Công Ty TNHH T có địa chỉ tại phường L, thành phố B, tỉnh Đồng Nai nên không thể có việc bà H vừa làm việc cho Công Ty TNHH T vừa làm việc cho Công ty TNHH G (Việt Nam), tại phường T, thị xã T, tỉnh Bình Dương. Việc trùng bảo hiểm nêu tên là do năm 2011 bà H có cho người cháu bên chồng tên Ngô Thị Kim H1, sinh năm 1995 mượn thông tin để đi làm Công ty ở Bình Dương vì thời điểm đó H1 mới 16 tuổi nên mượn giấy tờ của bà H để đi làm kiếm tiền phụ giúp gia đình.

Vì vậy, bà H làm đơn yêu cầu Tòa án tuyên bố Hợp đồng lao động giữa người có tên Ngô Thị Trúc H và Công ty TNHH G (Việt Nam) là vô hiệu, không yêu cầu giải quyết hậu quả của hợp đồng vô hiệu. Bà H sẽ liên hệ với Bảo hiểm xã hội có thẩm quyền để điều chỉnh, giảm trùng sổ Bảo hiểm xã hội theo quy định pháp luật.

- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Ngô Thị Kim H1 trình bày: Tháng 08 năm 2011, do bà H1 mới hơn 16 tuổi, không có chứng minh nhân dân để ký kết hợp đồng lao động nên bà H1 có mượn chứng minh nhân dân số xxxxxxxxx của bà Ngô Thị Trúc H để xin vào làm việc tại Công ty TNHH G (Việt Nam) và tham gia BHXH với số sổ 7411218151 do BHXH tỉnh B cấp. Bà H1 làm tại Công ty TNHH G (Việt Nam) đến tháng 03/2015 thì nghỉ làm. Hiện nay, bà Ngô Thị Trúc H có yêu cầu Toà án giải quyết tuyên hợp đồng lao động ký kết giữa Công ty G1 với bà Ngô Thị Trúc H, sinh năm 1992 vô hiệu.

Trước yêu cầu của bà Ngô Thị Trúc H, bà H1 đồng ý với yêu cầu của bà H và bà H1 cũng không có yêu cầu độc lập gì liên quan đến vụ việc nêu trên, không yêu cầu Tòa án giải quyết bất kỳ quyền lợi nghĩa vụ gì liên quan đến bà H1 trong việc tuyên bố hợp đồng vô hiệu.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Bảo hiểm xã hội thành phố T, tỉnh Bình Dương (viết tắt là BHXH) trình bày: Qua kiểm tra đối chiếu dữ liệu của bà Ngô Thị Trúc H, sinh năm 1992, số CMND xxxxxxxxx được Công ty TNHH G (Việt Nam) tham gia BHXH, bảo hiểm y tế (BHYT), bảo hiểm thất nghiệp (BHTN), bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp (BHTNLĐ-BNN), với mã số BHXH 7411218151 từ tháng 08/2011 đến tháng 03/2015. Đã xác nhận quá trình đóng BHXH, BHTN, BHTNLĐ-BNN. Chưa hưởng Bảo hiểm xã hội một lần, chưa hưởng trợ cấp Bảo hiểm thất nghiệp. Về yêu cầu của bà Ngô Thị Trúc H, Bảo hiểm xã hội thành phố T, tỉnh Bình Dương đề nghị giải quyết theo quy định của pháp luật.

- Bà Nguyễn Thị Túy Q là đại diện hợp pháp của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Công ty TNHH G (Việt Nam) trình bày: Công ty TNHH G (Việt Nam) đồng ý thông tin cung cấp của Bảo hiểm xã hội thành phố T về quá trình tham gia bảo hiểm của người tên Ngô Thị Trúc H tại Công ty TNHH G (Việt Nam). Tháng 3/015, người tên Ngô Thị Trúc H nghỉ việc tại Công ty TNHH G (Việt Nam). Hiện tại, Công ty TNHH G (Việt Nam) không còn lưu giữ tài liệu liên quan đến việc lao động của người tên Ngô Thị Trúc H, đề nghị Tòa án giải quyết vụ việc theo quy định của pháp luật.

- Ý kiến của Kiểm sát viên tham gia phiên họp:

Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Trong quá trình giải quyết việc lao động Thẩm phán và Thư ký đã thực hiện đúng trình tự thủ tục quy định tại Bộ luật Tố tụng Dân sự. Người yêu cầu, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự.

Về việc giải quyết việc dân sự: Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc lao động, đã được xem xét tại phiên họp, nhận thấy yêu cầu tuyên bố hợp đồng lao động giữa bà Ngô Thị Trúc H và Công ty TNHH G (Việt Nam) (thời gian làm việc từ tháng 08/2011 đến tháng 03/2015) bị vô hiệu của người yêu cầu bà Ngô Thị Trúc H là có căn cứ nên đề nghị Tòa án chấp nhận.

Những yêu cầu, kiến nghị để khắc phục vi phạm về tố tụng: Không có.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ được thẩm tra tại phiên họp, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát, Tòa án nhân dân thành phố Tân Uyên, tỉnh Bình Dương nhận định:

Về việc vắng mặt của những người tham gia tố tụng: Người yêu cầu; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt. Do đó, Tòa án tiến hành phiên họp vắng mặt các đương sự nói trên theo khoản 2, khoản 3 Điều 367 của Bộ luật Tố tụng Dân sự.

Về nội dung:

Quá trình tố tụng các đương sự khai thống nhất: Trong thời gian từ tháng 08/2011 đến tháng 03/2015, người lao động tên Ngô Thị Trúc H, sinh năm 1992, số CMND xxxxxxxxx (CCCD xxxxxxxxxxxx) được Công ty TNHH G (Việt Nam) tham gia BHXH, bảo hiểm y tế (BHYT), bảo hiểm thất nghiệp (BHTN), bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp (BHTNLĐ-BNN), với mã số BHXH 7411218151. Quan hệ lao động giữa Công ty TNHH G (Việt Nam) và bà Ngô Thị Trúc H phát sinh từ hợp đồng lao động vào tháng 08/2011. Tuy nhiên, bà Ngô Thị Trúc H và bà Ngô Thị Kim H1 thừa nhận người ký hợp đồng lao động với Công ty TNHH G (Việt Nam) và thực tế làm việc tại Công ty là bà Ngô Thị Kim H1 chứ không phải bà Ngô Thị Trúc H. Do bà Ngô Thị Kim H1 chưa đủ tuổi làm chứng minh nhân dân và ký hợp đồng lao động nên bà Ngô Thị Trúc H đã cho bà Ngô Thị Kim H1 mượn chứng minh nhân dân để đi làm việc. Trình bày của bà Ngô Thị Trúc H và bà Ngô Thị Kim H1 phù hợp với hồ sơ bảo hiểm xã hội, cụ thể trong thời gian từ tháng 03/2014 đến tháng 03/2015 bà Ngô Thị Trúc H có quá trình tham gia bảo hiểm xã hội tại cả 02 Công ty là Công ty TNHH G (Việt Nam) và Công ty TNHH T.

Xét thấy, việc bà Ngô Thị Kim H1 sử dụng chứng minh nhân dân của bà Ngô Thị Trúc H để giao kết hợp đồng lao động với Công ty TNHH G (Việt Nam) là hành vi gian dối. Hành vi trên đã vi phạm nguyên tắc tự nguyện, bình đẳng, thiện chí, hợp tác và trung thực khi xác lập quan hệ lao động theo quy định tại khoản 1 Điều 15 của Bộ luật Lao động, vi phạm nghĩa vụ cung cấp thông tin theo quy định tại khoản 2 Điều 16 của Bộ luật Lao động nên thuộc trường hợp hợp đồng lao động vô hiệu toàn bộ theo khoản 1 Điều 49 của Bộ luật Lao động.

Quá trình làm việc, Bảo hiểm xã hội thành phố T đã cung cấp thông tin về thời gian đóng bảo hiểm xã hội của bà Ngô Thị Trúc H bị trùng từ tháng 03/2014 đến tháng 03/2015. Do đó, bà Ngô Thị Trúc H yêu cầu tuyên bố hợp đồng lao động được ký kết giữa Công ty TNHH G (Việt Nam) với bà Ngô Thị Trúc H từ tháng 08/2011 đến tháng 03/2015 vô hiệu là có cơ sở chấp nhận.

Về hậu quả của hợp đồng vô hiệu: Các đương sự xác định không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét. Sau khi Quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật, người lao động có quyền liên hệ cơ quan Bảo hiểm xã hội để được giải quyết các chế độ bảo hiểm xã hội theo quy định.

Các bên có quyền và nghĩa vụ liên hệ cơ quan có thẩm quyền để thực hiện các thủ tục liên quan đến bảo hiểm theo quy định của pháp luật.

Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát về nội dung việc lao động, các thủ tục tố tụng, quá trình tiến hành tố tụng cũng như diễn biến tại phiên họp là phù hợp với quy định của pháp luật.

Về lệ phí: bà Ngô Thị Trúc H phải chịu theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ các Điều 33, 39, 149, 367, 401, 402 của Bộ luật Tố tụng Dân sự;

- Căn cứ các Điều 15, 16, 49, 50 và 51 của Bộ luật Lao động;

- Căn cứ Điều 37 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu giải quyết việc lao động của bà Ngô Thị Trúc H.

Tuyên bố hợp đồng lao động giữa người tên Ngô Thị Trúc H, sinh năm 1992, hộ khẩu thường trú: ấp Q, xã T, huyện V, thành phố Cần Thơ, số CMND xxxxxxxxx cấp ngày 22/05/2011 tại Công an thành phố C với Công ty TNHH G (Việt Nam), thời gian từ tháng 08/2011 đến tháng 03/2015 bị vô hiệu

Các bên có quyền và nghĩa vụ liên hệ cơ quan có thẩm quyền để thực hiện các thủ tục liên quan đến bảo hiểm theo quy định của pháp luật.

2. Lệ phí sơ thẩm giải quyết việc lao động: bà Ngô Thị Trúc H phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng), được khấu trừ tiền tạm ứng đã nộp theo biên lai thu số 0001306 ngày 16/4/2024 của Chi cục Thi hành án Dân sự thành phố Tân Uyên, tỉnh Bình Dương.

3. Người yêu cầu, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến việc giải quyết việc dân sự có quyền kháng cáo quyết định này trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày nhận được quyết định. Viện kiểm sát cùng cấp có quyền kháng nghị quyết định này trong thời hạn 10 ngày, Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp có quyền kháng nghị trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày Tòa án ra quyết định.

4. Trong trường hợp quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự./.

Cỡ chữ