vanban.org

Quyết định 41/2025/QĐST-LĐ — Yêu cầu tuyên bố hợp đồng lao động, thỏa ước lao động tập thể vô hiệu

TAND TX. Dĩ An, tỉnh Bình Dương Tuyên án 14/03/2025 Lao động Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu tuyên bố hợp đồng lao động vô hiệu của bà Đặng Thị T.

Tuyên bố hợp đồng lao động đã ký giữa bà Đặng Thị T và Công ty Cổ phần C (trước đây là Công ty TNHH D) là vô hiệu toàn bộ. Các bên có quyền và nghĩa vụ liên hệ cơ quan có thẩm quyền để thực hiện các thủ tục liên quan đến bảo hiểm theo quy định của pháp luật. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Yêu cầu tuyên bố hợp đồng lao động, thỏa ước lao động tập thể vô hiệu — án lao động — "Đặng Thị T"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu tuyên bố hợp đồng lao động vô hiệu của bà Đặng Thị T.
  • Căn cứ chính? Điều 149 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 15 Bộ luật Lao động; Điều 16 Bộ luật Lao động
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ DĨ AN
TỈNH BÌNH DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 41/2025/QĐST-LĐDĩ An, ngày 14 tháng 03 năm 2025

QUYẾT ĐỊNH

SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ

V/v yêu cầu tuyên bố hợp đồng lao động vô hiệu

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG

Thành phần giải quyết việc dân sự gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Ông Trần Hải Nam.

Thư ký phiên họp: Ông Hoàng Ngọc Linh - Thư ký Toà án.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương tham gia phiên họp: Ông Lê Thanh Tùng - Kiểm sát viên.

Ngày 14 tháng 03 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số: 26/2025/TLST-LĐ ngày 28 tháng 02 năm 2025, về việc: “Yêu cầu tuyên bố hợp đồng lao động vô hiệu”, theo Quyết định mở phiên họp sơ thẩm giải quyết việc dân sự số: 26/2025/QĐST-VDS ngày 07 tháng 3 năm 2025, gồm những người tham gia tố tụng sau đây:

1. Người yêu cầu giải quyết việc dân sự: Bà Đặng Thị T, sinh năm 1980; HKTT: Thôn Đ, phường Q, thị xã V, tỉnh Bắc Giang. Địa chỉ liên hệ: K, tổ A, đường D, khu phố C, phường M, thành phố B, tỉnh Bình Dương. (Vắng mặt, có yêu cầu giải quyết vắng mặt);

2. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

2.1. Bà Đặng Thị H, sinh năm 1966; HKTT: Số A, khu phố T, phường T, thành phố D, tỉnh Bình Dương. (Vắng mặt, có yêu cầu giải quyết vắng mặt);

2.2. Công ty Cổ phần C (trước đây là Công ty TNHH D); Địa chỉ: Lô C đường số B, Khu công nghiệp T, phường T thành phố D, tỉnh Bình Dương;

Người đại diện theo pháp luật: Ông Hà Duy H1 – Chủ tịch Hội đồng quản trị kiêm Tổng giám đốc. Vắng mặt.

2.3. Bảo hiểm xã hội thành phố D; Địa chỉ: Đường T, khu T, khu phố N, phường D, thành phố D, tỉnh Bình Dương;

Người đại diện hợp pháp: Ông Dương Văn T1, sinh năm 1988; HKTT: A, khu phố T, Phường T, thành phố D, tỉnh Bình Dương; là người đại diện theo văn bản ủy quyền ngày 04/3/2025. (Vắng mặt, có yêu cầu giải quyết vắng mặt).

NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ:

* Tại Đơn yêu cầu ghi ngày 19/02/2025 và quá trình giải quyết việc dân sự, người yêu cầu bà Đặng Thị T trình bày:

Bà Đặng Thị H, sinh năm 1966 là chị gái của bà T. Vào khoảng tháng 06/2003 do bà H không đủ hồ sơ ứng tuyển lao động nên bà T có cho bà H mượn hồ sơ lao động để giao kết hợp đồng lao động với Công ty Cổ phần C (trước đây là Công ty TNHH D); Địa chỉ: Lô C đường số B, khu công nghiệp T, phường T, thành phố D, tỉnh Bình Dương;

Công ty Cổ phần C (trước đây là Công ty TNHH D) đã đóng bảo hiểm cho bà Đặng Thị H với tên của bà Đặng Thị T từ 6/2003 đến tháng 7/2004 với mã số 9103051123.

Thực tế, bà T không làm việc tại Công ty Cổ phần C (trước đây là Công ty TNHH D) mà bà T làm việc tại Công ty TNHH L; Địa chỉ: Khu Chế Xuất L, Lô B, phường L, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh từ 4/2003 đến tháng 02/2014, có đóng Bảo hiểm xã hội mã số: 0203251006.

Nay bà Đặng Thị T tiến hành điều chỉnh thông tin bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế thì Cơ quan Bảo hiểm xã hội rà soát và phát hiện hồ sơ bảo hiểm của bà T bị trùng. Bà T đã liên hệ với cơ quan Bảo hiểm xã hội nhờ hướng dẫn thì cán bộ hướng dẫn bà T đến Tòa án để yêu cầu tuyên bố vô hiệu đối với hợp đồng lao động giữa bà Đặng Thị H với tên của bà Đặng Thị T và Công ty Cổ phần C (trước đây là Công ty TNHH D) theo hướng dẫn tại Công văn 1767/LĐTBXH-BHXH ngày 31/5/2022 của Bộ L1.

Do bà T và bà H không hiểu biết về pháp luật nên mới cho mượn giấy tờ để ký hợp đồng lao động như trên.

Do đó, bà T yêu cầu Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương Tuyên bố hợp đồng lao động giữa bà T và Công ty Cổ phần C (trước đây là Công ty TNHH D) là vô hiệu với lý do: Chị gái của bà T là Đặng Thị H đã sử dụng thông tin của bà T để giao kết hợp đồng lao động với Công ty Cổ phần C (trước đây là Công ty TNHH D). Bà T chỉ yêu cầu tuyên bố hợp đồng lao động vô hiệu, ngoài ra không yêu cầu giải quyết hậu quả của hợp đồng vô hiệu.

Việc Đặng Thị Hồng mượn hồ sơ lao động của bà T để làm việc tại Công ty Cổ phần C là lỗi của hai bà và không liên quan đến Công ty. Do đó, bà T tự nguyện chịu toàn bộ lệ phí lao động sơ thẩm theo quy định. Ngoài ra, bà T xác định không có ý kiến, hay yêu cầu gì khác trong việc này và xin vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết việc lao động sơ thẩm.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Đặng Thị H trình bày:

Bà Đặng Thị T, sinh năm 1980 là em gái của bà H. Vào khoảng tháng 6/2003 do bà H không đủ hồ sơ ứng tuyển lao động nên bà H có mượn hồ sơ lao động của bà T để giao kết hợp đồng lao động với Công ty Cổ phần C (trước đây là Công ty TNHH D); Địa chỉ: Lô C đường số B, khu công nghiệp T, phường T, thành phố D, tỉnh Bình Dương;

Công ty Cổ phần C (trước đây là Công ty TNHH D) đã đóng bảo hiểm cho bà H với tên của bà Đặng Thị T từ 6/2003 đến tháng 7/2004 với mã số 9103051123.

Thực tế, bà T không làm việc tại Công ty Cổ phần C mà làm việc tại Công ty TNHH L.

Đến thời điểm hiện tại do đã lâu nên hợp đồng lao động và các giấy tờ liên quan khi bà H sử dụng thông tin của bà Đặng Thị T ký hợp đồng lao động với Công ty Cổ phần C (trước đây là Công ty TNHH D) đã thất lạc hết không thể cung cấp cho Tòa án. Tại thời điểm bà H lấy thông tin của bà Đặng Thị T để giao kết hợp đồng, bản thân hai người không hiểu biết pháp luật nên đã làm ảnh hưởng đến quyền lợi của bà Đặng Thị T.

Do đó, đối với yêu cầu của bà Đặng Thị T về việc yêu cầu Toà án tuyên bố hợp đồng lao động giữa Đặng Thị T và Công ty Cổ phần C (trước đây là Công ty TNHH D) là vô hiệu thì bà H đồng ý. Bà H xác định không có ý kiến, hay yêu cầu gì trong việc này và xin vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết việc lao động sơ thẩm.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Công ty Cổ phần C (trước đây là Công ty TNHH D);

Tòa án đã tống đạt thông báo thụ lý việc dân sự, triệu tập hợp lệ để yêu cầu đại diện hợp pháp của Công ty Cổ phần C (trước đây là Công ty Cổ phần D) cung cấp bản ý kiến, tham gia phiên họp giải quyết việc dân sự nhưng đại diện Công ty Cổ phần C (trước đây là Công ty TNHH D) vắng mặt không có lý do.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Bảo hiểm xã hội thành phố D trình bày:

Qua kiểm tra đối chiếu dữ liệu tham gia bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp của Công ty Cổ phần C (trước đây là Công ty TNHH D) cho người lao động thì Công ty có tham gia bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp cho bà Đặng Thị T sinh năm 1980, căn cước công dân số xxxxxxxxxxxx, với mã số bảo hiểm xã hội 9103051123 có quá trình tham gia bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp từ tháng 06/2003 đến tháng 07/2004 đã nhận trợ cấp bảo hiểm xã hội một lần.

Ngoài ra qua tra cứu dữ liệu, Bảo hiểm xã hội thành phố D còn phát hiện bà Đặng Thị T còn có mã số 2422441623 từ tháng 04/2019 đến tháng 07/2020 và từ tháng 04/2021 đến tháng 07/2023 tại Công ty TNHH N (Việt Nam).

Về đề nghị yêu cầu tuyên bố hợp đồng lao động vô hiệu giữa bà Đặng Thị T và Công ty Cổ phần C (trước đây là Công ty TNHH D), đề nghị Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An căn cứ theo Điều 9, Điều 10, Điều 11 của Nghị định số 145/2020/NĐ-CP quy định về việc xử lý hợp đồng lao động vô hiệu để tuyên bố hợp động lao động vô hiệu. Về hợp đồng lao động, giấy tờ tùy thân của bà Đặng Thị T, bảo hiểm xã hội không có lưu trữ những hồ sơ này.

Về các yêu cầu khác của bà Đặng Thị T, Bảo hiểm xã hội thành phố D không có ý kiến. Đề nghị Toà án giải quyết theo đúng quy định của pháp luật.

Ngoài ra, Bảo hiểm xã hội thành phố D không có ý kiến, yêu cầu gì khác và đề nghị Tòa án tiến hành giải quyết vắng mặt trong suốt quá trình tố tụng của Tòa án.

Ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên họp:

- Về thủ tục tố tụng: Việc tuân theo pháp luật trong thời gian chuẩn bị xét đơn yêu cầu: Thẩm phán được phân công thụ lý và giải quyết vụ việc dân sự đã thực hiện đúng, đầy đủ theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Thư ký tại phiên họp đã tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự về việc mở phiên họp sơ thẩm giải quyết việc dân sự. Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

- Về nội dung: Yêu cầu của bà Đặng Thị T là có căn cứ, đề nghị Toà án chấp nhận.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp; ý kiến của đại diện Viện kiểm sát tại phiên họp, Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương nhận định:

Về thủ tục tố tụng: Bà Đặng Thị T có đơn yêu cầu tuyên bố hợp đồng lao động vô hiệu là yêu cầu về lao động thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại khoản 1 Điều 33 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Hợp đồng lao động được giao kết và thực hiện tại Công ty Cổ phần C (trước đây là Công ty TNHH D); Địa chỉ: Lô C đường số B, Khu công nghiệp T, phường T thành phố D, tỉnh Bình Dương nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương theo điểm v khoản 2 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Trong quá trình giải quyết, người yêu cầu giải quyết việc dân sự bà Đặng Thị T; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Đặng Thị H, Bảo hiểm xã hội thành phố D có yêu cầu giải quyết vắng mặt; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Công ty Cổ phần C (trước đây là Công ty TNHH D) vắng mặt không lý do nên căn cứ khoản 3 Điều 367 của Bộ luật Tố tụng dân sự tiếp tục phiên họp.

Đối với yêu cầu của bà Đặng Thị T xét thấy:

Việc bà Đặng Thị Hồng M chứng minh nhân dân, hồ sơ lao động của bà Đặng Thị T để giao kết hợp đồng lao động với Công ty Cổ phần C (trước đây là Công ty TNHH D) là hành vi gian dối. Hành vi trên là vi phạm nguyên tắc “Trung thực” theo quy định tại khoản 1 Điều 15 của Bộ luật Lao động, vi phạm nghĩa vụ cung cấp thông tin theo quy định tại khoản 2 Điều 16 của Bộ luật Lao động nên thuộc trường hợp hợp đồng lao động vô hiệu toàn bộ theo khoản 1 Điều 49 của Bộ luật Lao động.

Bảo hiểm xã hội thành phố D, tỉnh Bình Dương cung cấp thông tin:

Công ty Cổ phần C (trước đây là Công ty TNHH D) cho người lao động thì Công ty có tham gia bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp cho bà Đặng Thị T sinh năm 1980, căn cước công dân số xxxxxxxxxxxx, với mã số bảo hiểm xã hội 9103051123 có quá trình tham gia bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp từ tháng 06/2003 đến tháng 07/2004 đã nhận trợ cấp bảo hiểm xã hội một lần. Ngoài ra qua tra cứu dữ liệu, Bảo hiểm xã hội thành phố D còn phát hiện bà Đặng Thị T còn có mã số 2422441623 từ tháng 04/2019 đến tháng 07/2020 và từ tháng 04/2021 đến tháng 07/2023 tại Công ty TNHH N (Việt Nam).

Trình bày của bà Đặng Thị T là phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ giải quyết việc dân sự, phù hợp lời lời trình bày của những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan. Do đó, bà Đặng Thị T yêu cầu Tòa án tuyên bố hợp đồng lao động đã ký giữa bà Đặng Thị T với Công ty Cổ phần C (trước đây là Công ty TNHH D) vô hiệu là có cơ sở chấp nhận. Về hậu quả của hợp đồng vô hiệu: Các đương sự xác định không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét. Sau khi Quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật, người lao động có quyền liên hệ cơ quan Bảo hiểm xã hội để được giải quyết các chế độ bảo hiểm xã hội theo quy định.

Ý kiến của đại diện Viện Kiểm sát về nội dung việc dân sự, các thủ tục tố tụng, quá trình tiến hành tố tụng cũng như diễn biến tại phiên họp là phù hợp với quy định của pháp luật.

Về lệ phí: Bà Đặng Thị T tự nguyện chịu lệ phí theo quy định.

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ Điều 33, 39, 149, 367, 401, 402 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

- Điều 15, 16, 49, 50 và 51 của Bộ luật Lao động;

- Căn cứ Điều 37 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Chấp nhận yêu cầu tuyên bố hợp đồng lao động vô hiệu của bà Đặng Thị T.

Tuyên bố hợp đồng lao động đã ký giữa bà Đặng Thị T và Công ty Cổ phần C (trước đây là Công ty TNHH D) là vô hiệu toàn bộ.

Các bên có quyền và nghĩa vụ liên hệ cơ quan có thẩm quyền để thực hiện các thủ tục liên quan đến bảo hiểm theo quy định của pháp luật.

2. Lệ phí sơ thẩm giải quyết việc lao động: Bà Đặng Thị T phải chịu 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng), được khấu trừ hết vào tiền tạm ứng lệ phí bà T đã nộp theo Biên lai thu tiền số 0007822 ngày 20/02/2025 của Chi Cục Thi hành án dân sự thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương.

3. Quyền kháng cáo, kháng nghị: Người yêu cầu, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến việc giải quyết việc dân sự có quyền kháng cáo quyết định sơ thẩm giải quyết việc dân sự trong thời hạn 10 (mười) ngày, kể từ ngày nhận được quyết định hoặc quyết định được niêm yết tại nơi cư trú theo quy định của pháp luật.

Viện Kiểm sát cùng cấp có quyền kháng nghị quyết định sơ thẩm giải quyết việc dân sự trong thời hạn 10 (mười) ngày, Viện Kiểm sát cấp trên trực tiếp có quyền kháng nghị quyết định sơ thẩm giải quyết việc dân sự trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày Tòa án ra quyết định sơ thẩm giải quyết việc dân sự./.

Cỡ chữ