vanban.org

Quyết định 41/2022/QĐ-TA

TAND huyện Ea H'Leo, tỉnh Đắk Lắk Tuyên án 30/09/2022 Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Lương Văn H, sinh năm 1980.

Nơi chấp hành: Cơ sở điều trị cai nghiện ma túy tỉnh Đắk Lắk; Địa chỉ: Thôn 4, xã T, huyện P, tỉnh Đắk Lắk. Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là 18 (Mười tám) tháng kể từ ngày người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính bị tạm giữ để đưa đi cơ sở cai nghiện bắt buộc. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? "cai nghiện"
  • Tòa quyết gì? Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Lương Văn H, sinh năm 1980.
  • Căn cứ chính? Điều 96 Luật Xử lý vi phạm hành chính; Điều 103 Luật Xử lý vi phạm hành chính; Điều 104 Luật Xử lý vi phạm hành chính
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN E

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH ĐẮK LẮK
Số: 41/2022/QĐ - TA
E, ngày 30 tháng 9 năm 2022

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN E, TỈNH ĐẮK LẮK

Với thành phần tiến hành phiên họp gồm có:

1. Thẩm phán: Bà Nguyễn Thị Bích Thủy

2. Thư ký phiên họp: Bà Nguyễn Lê Hằng Nga

Ngày 30/9/2022 tại trụ sở Toà án nhân dân huyện E, tỉnh Đắk Lắk tiến hành phiên họp xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo Quyết định mở phiên họp số: 36/2022/QĐ-TA ngày 20 tháng 9 năm 2022, đối với:

Họ và tên: Họ và tên: Lương Văn H - sinh năm 1980; Giới tính: Nam; Dân tộc: Tày; Tôn giáo: không; Trình độ học vấn: 01/12; Nguyên quán: Cao Bằng; Trú tại: Thôn 9, xã M, huyện E, tỉnh Đắk Lắk; Nghề nghiệp: làm nông; Tiền án: không; Tiền sự: không. Nhân thân: Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc số 57/2019/QĐ-TA, ngày 22/8/2019 của Tòa án nhân dân huyện Ea H'leo, Lương Văn H bị áp dụng đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc với thời gian là 14 tháng. Ngày 24/4/2020, chấp hành xong quyết định. Con ông: Lương Văn X và bà Hoàng Thị Th. Vắng mặt tại phiên họp.

Với sự tham gia của:

1. Đại diện cơ quan đề nghị: Phòng Lao động Thương binh & Xã hội huyện E: Nguyễn Anh Khuấn - Chức vụ: Phó trưởng phòng - Có mặt.

2. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện E: Ông Trịnh Văn Hai - Chức vụ: Kiểm sát viên - Có mặt.

3.Những người khác:

Lương Văn K - sinh năm 1983 - Em trai Lương Văn H. Có mặt.

Địa chỉ: Thôn 9, xã M, huyện Ea H'leo, tỉnh Đăk Lăk.

NHẬN THẤY:

Lương Văn H là người sử dụng chất ma túy. Ngày 05/9/2022 Lương Văn H có đơn gửi Trung tâm Y Tế huyện E đề nghị xác định tình trạng nghiện ma túy. Tại phiếu kết quả xác định tình trạng nghiện ma túy ngày 07/9/2022 của Trung tâm Y Tế huyện E, xác định: Lương Văn H có tình trạng nghiện ma túy loại MoocPhin.

Căn cứ kết quả xét nghiệm trên, ngày 08/9/2022 Công an xã M, huyện E, tỉnh Đăk Lăk đã ra thông báo yêu cầu Lương Văn H trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày nhận được thông báo phải đến Công an xã M đăng ký cai nghiện tự nguyện tại gia đình, cộng đồng. Hết thời hạn thông báo, Lương Văn H vẫn không đến đăng ký theo nội dung yêu cầu. Ngày 14/9/2022, Công an xã M đã lập biên bản vi phạm về việc cai nghiện ma túy tự nguyện, quản lý sau cai nghiện ma túy và điều trị nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc thay thế, đồng thời lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Lương Văn H.

Tại phiên họp, đại diện Phòng Lao động Thương binh & Xã hội huyện E cho rằng Lương Văn H là người nghiện ma túy (đã có kết quả xét nghiệm) nhưng không đăng ký cai nghiện tự nguyện tại gia đình, công đồng là vi phạm khoản Điều 31, 33 Nghị định số 116/2021/NĐ-CP ngày 21/12/2021 của Chính Phủ, nên thuộc diện áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo quy định. Đề nghị đưa Lương Văn H đi cai nghiện bắt buộc tại Cơ sở điều trị cai nghiện ma túy tỉnh Đắk Lắk với thời hạn từ 16 tháng đến 18 tháng.

Tại phiên họp, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện E phát biểu ý kiến cho rằng: Hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Lương Văn H được lập đúng trình tự thủ tục và hồ sơ có đầy đủ các tài liệu chứng cứ. Quá trình chuẩn bị và tại phiên họp, Tòa án đã thực hiện đầy đủ và đúng các quy định của pháp luật trong việc xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính. Đề nghị Tòa án chấp nhận đề nghị của Phòng Lao động Thương binh & Xã hội huyện E.

Căn cứ vào tài liệu chứng cứ đã được thu thập trong hồ sơ, căn cứ kết quả tại phiên họp, ý kiến của những người tham gia phiên họp.

XÉT THẤY:

- Về thẩm quyền xem xét, áp dụng biện pháp xử lý hành chính: Cơ quan đề nghị là Phòng Lao động Thương binh & Xã hội huyện E có trụ sở tại địa bàn huyện E, nên vụ việc thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện E, theo quy định tại khoản 1 Điều 3 Pháp lệnh số 09/2014/UBTVQH13, ngày 20/01/2014 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

- Về thời hiệu: Ngày 14/7/2022 Công an xã Công An xã M, huyện E đã lập biên bản đối với Lương Văn H về hành vi “không đăng ký cai nghiện tự nguyên tại gia đình, cộng đồng” và lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp cai nghiện bắt buộc, đến ngày 30/9/2022 Tòa án nhân dân huyện E mở phiên họp quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính “đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc” là còn thời hiệu theo quy định tại khoản 2 Điều 6 Luật xử lý vi phạm hành chính.

- Tính hợp pháp của hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính “đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc”: Trình tự, thủ tục lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp cai nghiện bắt buộc đối với Lương Văn H được thực hiện đầy đủ theo mục I chương V Nghị định 116/2021 ngày 21/12/2021 và Điều 103 Luật xử lý vi phạm hành chính.

Lương Văn H là người nghiện ma túy, loại ma túy sử dụng là Heroine, hình thức sử dụng là dùng kim tiêm trực tiếp vào cơ thể. Kết quả xét nghiệm của Cơ quan y tế kết luận: Lương Văn H nghiện ma túy, loại MoocPhin. Tại phiên họp, Lương Văn H không tham gia. Mặc dù đã được Công An xã CưA Mung ra thông báo yêu cầu “đăng ký cai nghiện tự nguyện tại gia đình, cộng đồng”, nhưng Lương Văn H không đăng ký, là vi phạm khoản 1 Điều 32 Luật phòng chống ma túy; Điều 31 và Điều 33 nghị định số 116/2021/NĐ-CP ngày 21/12/2021 của Chính Phủ. Vì vậy thuộc đối tượng bị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo khoản 1 Điều 96 Luật xử lý vi phạm hành chính sửa đổi bổ sung năm 2020.

Xét tính chất mức độ hành vi của Lương Văn H trong việc sử dụng ma túy là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước về ma túy. Lương Văn H có nhân thân xấu, nghiện ma túy từ năm 2017, đã bị áp dụng biện pháp xử phạt hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc 01 lần nhưng vẫn tái nghiện. Tuy nhiên, trong quá trình lập hồ sơ Lương Văn H tỏ thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải đây là tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 9 Luật xử lý vi phạm hành chính cần áp dụng đối với Lương Văn H trong việc xem xét áp dụng biện pháp xử lý hành chính.

Xét đề nghị, của đại diện Phòng Lao động Thương binh & Xã hội huyện E đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Lương Văn H là có căn cứ, cần chấp nhận.

Bởi các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các Điều 6, Khoản 2 Điều 9, Điều 95, 96, 103;104, 105, 107 và 108 Luật xử lý vi phạm hành chính; Khoản 1 Điều 32 Luật phòng chống ma túy 2021; Điều 31, Điều 33 Nghị định 116/2021/NĐ-CP ngày 21/12/2021 của Chính Phủ.

1. Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Lương Văn H, sinh năm 1980.

Nơi chấp hành: Cơ sở điều trị cai nghiện ma túy tỉnh Đắk Lắk; Địa chỉ: Thôn 4, xã T, huyện P, tỉnh Đắk Lắk.

2. Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là 18 (Mười tám) tháng kể từ ngày người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính bị tạm giữ để đưa đi cơ sở cai nghiện bắt buộc.

3. Người bị đề nghị có quyền khiếu nại Quyết định này trong thời hạn 03 (ba) ngày làm việc, kể từ ngày công bố quyết định. Phòng Lao động thương binh & xã hội huyện E có quyền kiến nghị và Viện kiểm sát nhân dân huyện E có quyền kháng nghị Quyết định này trong thời hạn 03 (ba) ngày làm việc, kể từ ngày công bố quyết định.

4. Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị mà không có khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị.

5. Phòng lao động thương binh và Xã hội huyện E phối hợp với Công an huyện E có trách nhiệm thi hành quyết định này ngay sau khi quyết định có hiệu lực pháp luật.

Cỡ chữ