- Tranh chấp gì? Yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn... — án hôn nhân và gia đình — "Trương Gia Kh yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn Trần Thị T"
- Tòa quyết gì? Công nhận sự thuận tình ly hôn giữa chị Trần Thị T và anh Trương Gia Kh.
- Căn cứ chính? Điều 123 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 127 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 149 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ TĨNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 41/2018/QĐST - HNGĐ | Hà Tĩnh ngày 19 tháng 11 năm 2018 |
QUYẾT ĐỊNH SƠ THẨM
GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ
Về việc yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ TĨNH
Thành phần giải quyết việc dân sự gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Bà Trần Thị Thu Hiền
Thư ký phiên họp: Bà Trương Thị Minh Hiền - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Tĩnh tham gia phiên họp: Bà Nguyễn Hồng Lê - Kiểm sát viên.
Ngày 19 tháng 11 năm 2018 tại Tòa án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc Hôn nhân gia đình thụ lý số: 43/2018/TLST- HNGĐ ngày 18 tháng 10 năm 2018 về “Yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn” theo Quyết định mở phiên họp số: 140/2018/QĐPH-ST ngày 05 tháng 11 năm 2018.
Người yêu cầu giải quyết việc Hôn nhân gia đình:
Chị Trần Thị T, sinh năm 1994; Địa chỉ: xóm Yên Liễu, xã Xuân Yên, huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh; có mặt
Anh Trương Gia Kh (Zhang Jia - Qi); sinh năm 1979; Trú tại: Tầng 5, số 137, đường Hậu Cảng, xóm 013, phường Kiến Phúc, khu Tân Trang, TP. Tân Bắc, Đài Loan; vắng mặt có lý do.
NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ
Chị Trần Thị T và anh Trương Gia Kh đăng ký kết hôn ngày 03/5/2017 tại Ủy ban nhân dân huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh. Là hôn nhân tự nguyện, hợp pháp. Sau khi kết hôn, ngày 08/8/2017 anh Kh và chị T đến văn phòng kinh tế văn hóa Đài Bắc tại Hà Nội phỏng vấn nhưng không được thông qua, nhận được công hàm không thụ lý hồ sơ. Đến nay đã được hơn 1 năm chưa giải quyết được, do khoảng cách giữa hai nước Việt Nam và Đài Loan nên cả hai đều có nguyện vọng ly hôn. Chị T và anh Kh yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Hà tĩnh giải quyết các vấn đề sau:
- Về quan hệ tình cảm: Công nhận thuận tình ly hôn giữa chị Trần Thị T và anh Trương Gia Kh.
- Về con chung: Chị Trần Thị T và anh Trương Gia Kh chưa có con chung.
- Về tài sản chung và nợ: Hai đương sự tự thỏa thuận không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Tĩnh sau khi nhận xét về việc chấp hành pháp luật của Thẩm phán, Thư ký và các đương sự đã phân tích nội dung vụ việc, các vấn đề đương sự đã thỏa thuận thống nhất được với nhau nên đề nghị Tòa án chấp nhận sự thỏa thuận của chị Trần Thị T và anh Trương Gia Kh về tình cảm. Về tài sản không yêu cầu nên không xem xét.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc Hôn nhân gia đình dân sự được thẩm tra tại phiên họp và căn cứ vào ý kiến đương sự, ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên, Tòa án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh nhận định:
Về thủ tục tố tụng: Anh Trương Gia Kh là người mang quốc tịch Trung Hoa (Đài Loan), hiện đang sinh sống và làm việc tại Đài Loan nên vụ việc thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh theo quy định tại Điều 37 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Do điều kiện công việc nên anh Kh không thể về nước tham gia phiên tòa, vì vậy anh có đơn yêu cầu được xét xử vắng mặt. Căn cứ quy định tại Điều 367 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 Tòa án mở phiên họp giải quyết việc Hôn nhân gia đình vắng mặt anh Kh theo thủ tục chung.
Về nội dung:
Về quan hệ tình cảm: Cuộc hôn nhân giữa chị Trần Thị T và anh Trương Gia Kh được xây dựng trên cơ sở tự nguyện, không bị ép buộc, lừa dối, đăng ký kết hôn hợp pháp. Sau khi kết hôn chị T và anh Kh đến văn phòng kinh tế văn hóa Đài Bắc tại Hà Nội phỏng vấn nhưng hồ sơ không được thông qua. Đến nay đã được hơn 1 năm chưa giải quyết được nên hai vợ chồng phải ở hai nơi Việt Nam và Đài Loan, vì vậy cả hai đều có nguyện vọng ly hôn.
Mục đích hôn nhân là xây dựng cuộc sống gia đình hạnh phúc nhưng cuộc hôn nhân giữa chị T và anh Kh không đạt được mục đích đó. Xét thấy, sự thỏa thuận của các đương sự là tự nguyện, đúng pháp luật. Vợ chồng sống mỗi người một nơi không có khả năng đoàn tụ, mục đích hôn nhân không đạt được nên cần căn cứ Điều 51, 55 Luật hôn nhân gia đình năm 2014 chấp nhận yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn của chị T và anh Kh.
Về con chung: Chị Trần Thị T và anh Trương Gia Kh chưa có con chung.
Về tài sản chung và nợ: Hai đương sự không yêu cầu nên Tòa không xem xét.
Về lệ phí ly hôn: Chị Trần Thị T tự nguyện chịu 300.000đ lệ phí ly hôn sơ thẩm.
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ: Các Điều 51, 55, 123, 127 của Luật Hôn nhân gia đình năm 2014; Các Điều 149, 361, 369, 370 và Điều 371 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Các Điều 35, 36 và Điều 37 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.
1. Công nhận sự thuận tình ly hôn giữa chị Trần Thị T và anh Trương Gia Kh.
2. Lệ phí giải quyết việc dân sự: Chấp nhận sự tự nguyện nộp 300.000 đồng lệ phí dân sự sơ thẩm của chị Trần Thị T (đã nộp tại Biên lai thu tạm ứng án phí số 1240 ngày 18/10/2018 tại Cục Thi hành án dân sự tỉnh Hà Tĩnh).
Quyền kháng cáo: Quyết định này có hiệu lực pháp luật ngay sau khi được ban hành và không bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm.
| Nơi nhận: - Các đương sự; - VKSND tỉnh Hà Tĩnh; - TAND cấp cao; - Cục THADS tỉnh Hà Tĩnh - Lưu hồ sơ vụ án. | THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN HỌP Trần Thị Thu Hiền |