vanban.org

Quyết định 40/2025/QĐST-LĐ — Yêu cầu tuyên bố hợp đồng lao động, thỏa ước lao động tập thể vô hiệu

TAND TX. Tân Uyên, tỉnh Bình Dương Tuyên án 30/03/2025 Lao động Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận toàn bộ yêu cầu giải quyết việc lao động của bà Hồ Thị H.

Tuyên bố hợp đồng lao động giữa người tên Hồ Thị H, sinh năm 1990; số CMND xxx.xxx.xxx với Công ty Cổ phần C (nay là Công ty TNHH MTV C), thời gian từ tháng 05/2009 đến tháng 05/2011 bị vô hiệu Các bên có quyền và nghĩa vụ liên hệ cơ quan có thẩm quyền để thực hiện các thủ tục liên quan đến bảo hiểm… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Yêu cầu tuyên bố hợp đồng lao động, thỏa ước lao động tập thể vô hiệu — án lao động — "Hò Thị H"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận toàn bộ yêu cầu giải quyết việc lao động của bà Hồ Thị H.
  • Căn cứ chính? Điều 149 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 15 Bộ luật Lao động; Điều 16 Bộ luật Lao động
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ TÂN UYÊN
TỈNH BÌNH DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 40/2025/QĐST-LĐTân Uyên, ngày 31 tháng 3 năm 2025

QUYẾT ĐỊNH

SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC LAO ĐỘNG

V/v yêu cầu tuyên bố hợp đồng lao động vô hiệu

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TÂN UYÊN, TỈNH BÌNH DƯƠNG

Thành phần giải quyết việc lao động gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Ông Nguyễn Chữ Cần.

Thư ký phiên họp: Ông Lềnh Khâm Vĩ - Thư ký Toà án.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tân Uyên, tỉnh Bình Dương tham gia phiên họp: Ông Võ Anh Duy - Kiểm sát viên.

Ngày 31 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân thành phố T mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc lao động thụ lý số: 17/2025/TLST-VLĐ ngày 25 tháng 02 năm 2025 về việc “Yêu cầu tuyên bố hợp đồng lao động vô hiệu” theo Quyết định mở phiên họp sơ thẩm giải quyết việc lao động số: 17/2024/QĐST-LĐ ngày 20 tháng 3 năm 2025, gồm những người tham gia tố tụng sau đây:

- Người yêu cầu giải quyết việc lao động: Bà Hồ Thị H, sinh năm 1990; thường trú: thôn H, xã S, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh; địa chỉ: tổ A, khu phố B, phường H, thành phố T, tỉnh Bình Dương, có mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. Bà Hồ Thị Y, sinh năm 1992; địa chỉ: C, thôn H, xã Q, huyện Q, tỉnh Quảng Bình, địa chỉ: tổ A, khu phố B, phường H, thành phố T, tỉnh Bình Dương, có mặt.

2. Công ty TNHH MTV C; địa chỉ: đường Đ, khu phố G, phường U, thành phố T, tỉnh Bình Dương.

Người đại diện hợp pháp của Công ty TNHH MTV C: ông Võ Trường T, là người đại diện theo pháp luật, vắng mặt.

3. Bảo hiểm Xã hội thành phố T, tỉnh Bình Dương; địa chỉ: Đường Đ, khu phố E, phường U, thành phố T, tỉnh Bình Dương.

Người đại diện hợp pháp của Bảo hiểm Xã hội thành phố T: Ông Trương Thanh N, chức vụ: Giám đốc. Có yêu cầu giải quyết vắng mặt.

NỘI DUNG VIỆC LAO ĐỘNG:

- Theo đơn yêu cầu giải quyết việc lao động và lời khai trong quá trình giải quyết bà Hồ Thị H trình bày:

Từ năm 2010, bà Hồ Thị H là công nhân, nhân viên kiểm đếm số lượng hàng hóa của Công ty TNHH P, địa chỉ khu phố C, phường U, thành phố T, tỉnh Bình Dương và được Công ty thực hiện thủ tục Bảo hiểm xã hội theo quy định của pháp luật với số Bảo hiểm xã hội là 7410110553 do Bảo hiểm xã hội tỉnh B cấp.

Tháng 12/2024, bà H đi làm thủ tục bảo hiểm xã hội để hưởng chế độ Bảo hiểm thì được hưởng chế độ Bảo hiểm xã hội 01 lần thì Bảo hiểm xã hội thành phố T thông báo bà H có 02 sổ bảo hiểm xã hội với 02 số khác nhau. Ngoài sổ bảo hiểm xã hội của Công ty TNHH P thì bà H còn 01 sổ Bảo hiểm xã hội do Công ty Cổ phần C (nay là Công ty TNHH MTV C) đóng Bảo hiểm xã hội cho một người tên Hồ Thị H, có số CMND xxxxxxxxx và những thông tin nhân thân giống như của bà H. Nhưng thực tế tại thời điểm này bà H đang là Công nhân của Công ty TNHH P, thời gian làm việc hàng ngày từ 07 giờ 30 phút đến 16 giờ 30, từ ngày thứ 2 đến ngày thứ 7 nên không thể có việc bà H vừa làm việc cho Công ty TNHH P vừa làm việc cho Công ty Cổ phần C.

Việc trùng bảo hiểm nêu tên là do năm 2009 bà H có cho người em tên Hồ Thị Y, sinh năm 1992 mượn thông tin để đi làm Công ty Cổ phần C ở phường U, T, Bình Dương, vì thời điểm đó bà Hồ Thị Y là em ruột của bà H mới 17 tuổi, chưa đủ tuổi lao động theo thu cầu tuyển dụng của các công ty, mượn giấy tờ của bà H để đi làm kiếm tiền phụ giúp gia đình.

Vì vậy, bà H làm đơn yêu cầu Tòa án tuyên bố Hợp đồng lao động giữa người có tên Hồ Thị H và Công ty Cổ phần C (nay là Công ty TNHH MTV C) là vô hiệu, không yêu cầu giải quyết hậu quả của hợp đồng vô hiệu. Bà H sẽ liên hệ với Bảo hiểm xã hội có thẩm quyền để điều chỉnh, giảm trùng sổ Bảo hiểm xã hội theo quy định pháp luật.

- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Hồ Thị Y trình bày: Tháng 05 năm 2009, do bà Hồ Thị Y, chưa đủ 18 tuổi nên chưa thể ký kết hợp đồng lao động theo yêu cầu của các công ty tuyển dụng nên bà Hồ Thị Y có mượn chứng minh nhân dân số xxxxxxxxx của bà H, là chị ruột để xin vào làm việc tại Công ty Cổ phần C (nay là Công ty TNHH MTV C) và tham gia BHXH với số sổ 7409073414 do BHXH Tân Uyên cấp. Bà Hồ Thị Y làm tại Công ty Cổ phần C (nay là Công ty TNHH MTV C) đến tháng 05/2011 thì nghỉ làm. Hiện nay, bà H có yêu cầu Toà án giải quyết tuyên hợp đồng lao động ký kết giữa Công ty TNHH MTV C với bà Hải Thị Thùy D, sinh năm 1993 vô hiệu.

Trước yêu cầu của bà Hồ Thị H, bà Hồ Thị Y đồng ý với yêu cầu của bà H và bà Hồ Thị Y cũng không có yêu cầu độc lập gì liên quan đến vụ việc nêu trên.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Bảo hiểm xã hội thành phố T, tỉnh Bình Dương (viết tắt là BHXH) trình bày: Qua kiểm tra đối chiếu dữ liệu của bà Hồ Thị H, sinh năm 10/07/1990, số Chứng minh nhân dân: xxxxxxxxx (số C công dân: xxxxxxxxxxxx) được Công ty Cổ phần C (nay là Công ty TNHH MTV C) tham gia BHXH, bảo hiểm y tế (BHYT), bảo hiểm thất nghiệp (BHTN), bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp (BHTNLĐ-BNN) với mã số BHXH 7409073414 từ tháng 05/2009 đến tháng 05/2011. Đã xác nhận quá trình đóng BHXH, BHTN, BHTNLĐ-BNN. Theo quy định hiện hành về đăng ký tham gia BHXH, BHYT, BHTN cơ quan BHXH không lưu giữ HĐLĐ và các giấy tờ tuỳ thân của người lao động mà do người sử dụng lao động quản lý, lưu giữ. Tại thời điểm tra cứu, thông tin giải quyết hưởng các chế độ BHXH, bảo hiểm thất nghiệp như sau: Mã số 7409073414, tên Hồ Thị H đã hưởng BHXH 1 lần theo Quyết định số 031205084 ngày 24/08/2012. Về yêu cầu của bà Hồ Thị H, Bảo hiểm xã hội thành phố T, tỉnh Bình Dương đề nghị giải quyết theo quy định của pháp luật.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Công ty TNHH MTV C: Không có văn bản ý kiến trình bày.

- Ý kiến của Kiểm sát viên tham gia phiên họp:

Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Trong quá trình giải quyết việc lao động Thẩm phán và Thư ký đã thực hiện đúng trình tự thủ tục quy định tại Bộ luật Tố tụng Dân sự. Người yêu cầu, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự.

Về việc giải quyết việc dân sự: Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc lao động, đã được xem xét tại phiên họp, nhận thấy yêu cầu tuyên bố hợp đồng lao động giữa bà Hồ Thị H và Công ty Cổ phần C (nay là Công ty TNHH MTV C) (thời gian làm việc từ tháng 05/2009 đến tháng 05/2011) bị vô hiệu của người yêu cầu bà Hồ Thị H là có căn cứ nên đề nghị Tòa án chấp nhận.

Những yêu cầu, kiến nghị để khắc phục vi phạm về tố tụng: Không có.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ được thẩm tra tại phiên họp, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát, Tòa án nhân dân thành phố Tân Uyên, tỉnh Bình Dương nhận định:

Về việc vắng mặt của những người tham gia tố tụng: Người yêu cầu; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Bảo hiểm xã hội thành phố T có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là Công ty TNHH MTV C vắng mặt. Tòa án tiến hành phiên họp vắng mặt các đương sự nói trên theo khoản 2, khoản 3 Điều 367 của Bộ luật Tố tụng Dân sự.

Về nội dung:

Quá trình tố tụng các đương sự khai thống nhất: Trong thời gian từ tháng 05/2009 đến tháng 05/2011, người lao động tên Hồ Thị H, sinh năm 1990, CMND xxx.xxx.xxx được Công ty Cổ phần C (nay là Công ty TNHH MTV C) tham gia BHXH, bảo hiểm y tế (BHYT), bảo hiểm thất nghiệp (BHTN), bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp (BHTNLĐ-BNN), với mã số BHXH 7409073414. Quan hệ lao động giữa Công ty Cổ phần C (nay là Công ty TNHH MTV C) và người lao động tên Hồ Thị H phát sinh từ hợp đồng lao động vào tháng 05/2009.

Tuy nhiên, bà Hồ Thị H và bà Hồ Thị Y thừa nhận người ký hợp đồng lao động với Công ty Cổ phần C (nay là Công ty TNHH MTV C) và thực tế làm việc tại Công ty là bà Hồ Thị Y, không phải bà Hồ Thị H. Do bà Hồ Thị Y chưa đủ tuổi ký hợp đồng lao động nên bà Hồ Thị H đã cho bà Hồ Thị Y mượn chứng minh nhân dân để đi làm việc.

Trình bày của bà Hồ Thị H và bà Hồ Thị Y phù hợp với hồ sơ bảo hiểm xã hội, cụ thể trong thời gian từ tháng 05/2009 đến tháng 05/2011 bà Hồ Thị H có quá trình tham gia bảo hiểm xã hội tại Công ty TNHH MTV C và tham gia bảo hiểm xã hội tại Công ty TNHH P từ tháng 4/2010 đến tháng 11/2023.

Xét thấy, việc bà Hồ Thị Y sử dụng chứng minh nhân dân của bà Hồ Thị H để giao kết hợp đồng lao động với Công ty Cổ phần C (nay là Công ty TNHH MTV C) là hành vi gian dối. Hành vi trên đã vi phạm nguyên tắc tự nguyện, bình đẳng, thiện chí, hợp tác và trung thực khi xác lập quan hệ lao động theo quy định tại khoản 1 Điều 15 của Bộ luật Lao động, vi phạm nghĩa vụ cung cấp thông tin theo quy định tại khoản 2 Điều 16 của Bộ luật Lao động nên thuộc trường hợp hợp đồng lao động vô hiệu toàn bộ theo khoản 1 Điều 49 của Bộ luật Lao động.

Quá trình làm việc, Bảo hiểm xã hội thành phố T đã cung cấp thông tin về thời gian đóng bảo hiểm xã hội của bà Hồ Thị H bị trùng từ tháng 04/2010 đến tháng 05/2011. Do đó, bà Hồ Thị H yêu cầu tuyên bố hợp đồng lao động được ký kết giữa Công ty Cổ phần C (nay là Công ty TNHH MTV C) với người tên Hồ Thị H (do bà Hồ Thị Y là người ký kết) từ tháng 05/2009 đến tháng 05/2011 vô hiệu là có cơ sở chấp nhận.

Về hậu quả của hợp đồng vô hiệu: Các đương sự xác định không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét. Sau khi Quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật, người lao động có quyền liên hệ cơ quan Bảo hiểm xã hội để được giải quyết các chế độ bảo hiểm xã hội theo quy định.

Các bên có quyền và nghĩa vụ liên hệ cơ quan có thẩm quyền để thực hiện các thủ tục liên quan đến bảo hiểm theo quy định của pháp luật.

Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát về nội dung việc lao động, các thủ tục tố tụng, quá trình tiến hành tố tụng cũng như diễn biến tại phiên họp là phù hợp với quy định của pháp luật.

Về lệ phí: bà Hồ Thị H phải chịu theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ các Điều 33, 39, 149, 367, 401, 402 của Bộ luật Tố tụng Dân sự;

- Căn cứ các Điều 15, 16, 49, 50 và 51 của Bộ luật Lao động;

- Căn cứ Điều 37 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu giải quyết việc lao động của bà Hồ Thị H.

Tuyên bố hợp đồng lao động giữa người tên Hồ Thị H, sinh năm 1990; số CMND xxx.xxx.xxx với Công ty Cổ phần C (nay là Công ty TNHH MTV C), thời gian từ tháng 05/2009 đến tháng 05/2011 bị vô hiệu

Các bên có quyền và nghĩa vụ liên hệ cơ quan có thẩm quyền để thực hiện các thủ tục liên quan đến bảo hiểm theo quy định của pháp luật.

2. Lệ phí sơ thẩm giải quyết việc lao động: bà Hồ Thị H phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng), được khấu trừ tiền tạm ứng đã nộp theo biên lai thu số 0004995 ngày 21/02/2025 của Chi cục Thi hành án Dân sự thành phố Tân Uyên, tỉnh Bình Dương.

3. Người yêu cầu, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến việc giải quyết việc dân sự có quyền kháng cáo quyết định này trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày nhận được quyết định. Viện kiểm sát cùng cấp có quyền kháng nghị quyết định này trong thời hạn 10 ngày, Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp có quyền kháng nghị trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày Tòa án ra quyết định.

4. Trong trường hợp quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự./.

Cỡ chữ