- Tranh chấp gì? Yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn... — án hôn nhân và gia đình — "Kiện xin ly hôn"
- Tòa quyết gì? Công nhận thuận tình ly hôn và sự thỏa thuận của các bên tham gia hòa giải được ghi trong Biên bản ghi nhận kết quả hòa giải ngày 26 tháng 8 năm 2025, cụ thể như sau:
- Căn cứ chính? Điều 32 Luật Hòa giải; Điều 33 Luật Hòa giải; Điều 34 Luật Hòa giải
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 17 – PHÚ THỌ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 40/2025/QĐCNTTLH | Phú Thọ, ngày 12 tháng 9 năm 2025 |
QUYẾT ĐỊNH
CÔNG NHẬN THUẬN TÌNH LY HÔN VÀ SỰ THỎA THUẬN
CỦA CÁC BÊN THAM GIA HÒA GIẢI TẠI TÒA ÁN
Căn cứ Điều 32, Điều 33, Điều 34, Điều 35 và Điều 36 của Luật Hòa giải, Đối thoại tại Tòa án;
Căn cứ Điều 55, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 của Luật hôn nhân và gia đình;
Căn cứ yêu cầu Tòa án công nhận thuận tình ly hôn và sự thỏa thuận của anh Trần Minh Ng và chị Bùi Thị Như Q.
Sau khi nghiên cứu đơn khởi kiện về tranh chấp hôn nhân và gia đình đề ngày 11 tháng 8 năm 2025 của anh Trần Minh Ng.
Biên bản ghi nhận kết quả hòa giải ngày 26 tháng 8 năm 2025 về thuận tình ly hôn và sự thỏa thuận của các bên tham gia hòa giải sau đây:
- Người khởi kiện: Anh Trần Minh Ng, sinh năm 1990
- Người bị kiện: Chị Bùi Thị Như Q, sinh năm 1994
Cùng địa chỉ: khu phố Yên Phong, xã Yên Thủy, tỉnh Phú Thọ.
Các tài liệu kèm theo Biên bản ghi nhận kết quả hòa giải do Hòa giải viên chuyển sang Tòa án và các tài liệu do Tòa án thu thập được theo quy định tại khoản 2 Điều 32 của Luật Hòa giải, đối thoại tại Tòa án.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Việc thuận tình ly hôn và sự thỏa thuận của các bên tham gia hòa giải được ghi trong Biên bản ghi nhận kết quả hòa giải ngày 26 tháng 8 năm 2025 có đủ điều kiện quy định tại Điều 33 của Luật Hòa giải, đối thoại tại Tòa án.
QUYẾT ĐỊNH:
1. Công nhận thuận tình ly hôn và sự thỏa thuận của các bên tham gia hòa giải được ghi trong Biên bản ghi nhận kết quả hòa giải ngày 26 tháng 8 năm 2025, cụ thể như sau:
- Về quan hệ hôn nhân: anh Trần Minh Ng và chị Bùi Thị Như Q thuận tình ly hôn.
+ Về con chung:
- Giao cháu Trần Minh Kh, sinh ngày 12/01/2020 cho anh Trần Minh Ng trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi cháu Kh đủ 18 tuổi.
- Giao cháu Trần Ng An Nh, sinh ngày 05/4/2024 cho chị Bùi Thị Như Q trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi cháu Nh đủ 18 tuổi.
Về cấp dưỡng nuôi con: Tòa án đã giải thích cho anh Trần Minh Ng và chị Bùi Thị Như Q biết quyền yêu cầu cấp dưỡng nuôi con của người trực tiếp nuôi con, nhưng anh Ng, chị Q chưa yêu cầu cấp dưỡng nuôi con. Vì vậy, hiện tại anh Ng, chị Q chưa phải thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con.
Sau khi ly hôn anh Trần Minh Ng và chị Bùi Thị Như Q có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Anh Ng, chị Q cùng các thành viên trong gia đình không được cản trở Anh Ng, chị Q trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.
Nếu anh Ng, chị Q lạm dụng việc thăm non con để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục con thì anh Ng, chị Q có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của anh Ng, chị Q.
Vì lợi ích của con, trong trường hợp có yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức theo qui định của pháp luật, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc quyết định về việc cấp dưỡng.
- Về tài sản, công nợ chung:
+ Về tài sản chung: anh Trần Minh Ng và chị Bùi Thị Như Q đều thừa nhận không có, không yêu cầu đề nghị Tòa án giải quyết.
+ Về công nợ chung: anh Trần Minh Ng và chị Bùi Thị Như Q không nợ tổ chức, cá nhân nào nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
2. Quyết định này có hiệu lực pháp luật kể từ ngày ký, không bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự và được thi hành theo quy định của pháp luật về thi hành án dân.
| Nơi nhận: - Các đương sự; - TAND tỉnh Phú Thọ; - Viện kiểm sát ND KV 17; - Phòng THADS KV 17; - UBND xã M’Đrắk; (Đăng ký ngày 18/10/2021) - Lưu hồ sơ vụ án; - Lưu TA. | THẨM PHÁN (Đã ký) Bùi Thị Lan |