- Tranh chấp gì? Yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn... — án hôn nhân và gia đình — "Yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn giữa chị H và anh T"
- Tòa quyết gì? Quan hệ hôn nhân: Công nhận sự thuận tình ly hôn giữa chị Nguyễn Thị H và anh Hồ Văn T.
- Căn cứ chính? Điều 149 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 29 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ TĨNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số 38/2022/QĐST-HNGĐ ơ | Hà Tĩnh, ngày 28 tháng 4 năm 2022, |
QUYẾT ĐỊNH
GIẢI QUYẾT VIỆC HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH
(V/v yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn)
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ TĨNH
Thành phần giải quyết việc Hôn nhân gia đình:
Thẩm phán chủ tọa phiên họp: Ông Bùi Văn Lam
Thư ký ghi biên bản phiên họp: Bà Trần Thị Thúy Hạnh
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Tĩnh tham gia phiên họp: Ông Nguyễn Văn Quyết- Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 4 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh, mở phiên họp công khai giải quyết việc Hôn nhân gia đình thụ lý 17/2022/TLST-HNGĐ ngày 10/02/2022, về việc “Yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn”, theo Quyết định mở phiên họp số 33/2022/QĐ-TA ngày 12 tháng 4 năm 2022, bao gồm những người tham gia tố tụng sau đây:
Người yêu cầu giải quyết việc Hôn nhân gia đình:
1. Chị Nguyễn Thị H; sinh ngày 15/3/1993, địa chỉ: Thôn B, xã C, huyện N, tỉnh Hà Tĩnh. Hiện lao động tại Đài Loan (vắng mặt tại phiên họp).
2. Anh Hồ Văn T; sinh ngày 04/11/1990, địa chỉ: Thôn Hồng Tiến, xã X, huyện N, tỉnh Hà Tĩnh. Hiện đang lao động tại Hàn Quốc. (vắng mặt tại phiên họp).
- Người tham gia tố tụng khác:
+ Bà Hồ Thị T; địa chỉ: Thôn B, xã C, huyện N, tỉnh Hà Tĩnh.
+ Chị Hồ Thị C: Địa chỉ:Thôn Hồng Tiến, xã X, huyện N, tỉnh Hà Tĩnh.
NỘI DUNG VIỆC HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH:
Theo Đơn yêu cầu ly hôn, Bản tự khai cũng như các tài liệu khác có tại hồ sơ, chị Nguyễn Thị H trình bày như sau:
Quan hệ hôn nhân: Chị và anh Hồ Văn T đăng ký kết hôn vào ngày 18 tháng 02 năm 2013 tại Ủy ban nhân dân xã C, huyện N, tỉnh Hà Tĩnh. Kết hôn tự nguyện. Sau khi kết hôn, hai vợ chồng chung sống hạnh phúc được một thời gian. Năm 2017 anh T đi lao động nước ngoài, đến năm 2018, vợ chồng phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân, do anh T có quan hệ tình cảm với người phụ nữ khác. Mặc dù, chị khuyên răn và cố gắng tìm biện pháp để giữ hạnh phúc gia đình nhưng không có kết quả. Năm 2020 chị H đi lao động Đài Loan. Kể từ thời điểm xảy ra mâu thuẫn đến nay vợ chồng ít khi liên lạc và không quan tâm nhau, tình cảm rạn nứt. Nhận thấy mâu thuẫn trầm trọng, không mong muốn tiếp tục duy trì quan hệ vợ chồng nên chị Nguyễn Thị H làm đơn yêu cầu được ly hôn với anh Hồ Văn T.
Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung Hồ Nguyễn Gia B, sinh ngày 05/11/2013. Chị H yêu cầu giao con chung cho chị trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Trong thời gian chưa về nước, chị nhờ bà Hồ Thị T thay chị chăm sóc con chung. Về nghĩa vụ cấp dưỡng tiền nuôi con: Chị H yêu cầu anh T cấp dưỡng mỗi tháng 2.000.000đ kể từ thời điểm ly hôn đến khi con chung tròn 18 tuổi.
Về tài sản chung, nợ chung: Chị Nguyễn Thị H không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Anh Hồ Văn T trình bày thống nhất với chị H về thời gian kết hôn, địa điểm kết hôn và thời gian mâu thuẫn vợ chồng. Theo anh, lý do khiến vợ chồng mâu thuẫn có nhiều nguyên nhân như: Vợ chồng không có thời gian chăm sóc nhau, làm ăn thua lỗ, bản thân anh có tình cảm với người phụ nữ khác. Hiện tại vợ chồng mâu thuẫn trầm trọng, chị H đã nhiều lần yêu cầu ly hôn vì vậy anh đồng ý với yêu cầu ly hôn của chị.
Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung Hồ Nguyễn Gia B, anh đồng ý giao con chung cho chị H được quyền trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Trong thời gian chị H chưa về nước anh thống nhất nhờ bà Hồ Thị T chăm sóc con chung thay chị H và đồng ý cấp dưỡng tiền nuôi con chung mỗi tháng 2.000.000đ kể từ thời điểm ly hôn đến khi con chung tròn 18 tuổi.
Về tài sản chung, nợ chung: Anh Hồ Văn T không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Con chung Hồ Nguyễn Gia Bảo có đơn nguyện vọng được ở với mẹ và bà ngoại (bà Hồ Thị Tứ).
Người tham gia tố tụng khác bà Hồ Thị T đồng ý nhận ủy quyền giao nhận tài liệu chứng cứ của chị Nguyễn Thị H và có đơn tự nguyện chăm sóc cháu Hồ Nguyễn Gia B thay chị Nguyễn Thị H trong thời gian chị H chưa về nước và không có yêu cầu gì về việc nuôi dưỡng cháu Bảo. Chị Hồ Thị C đồng ý nhận ủy quyền giao nhận tài liệu chứng cứ của anh Hồ Văn T.
Tại phiên họp, Chị Nguyễn Thị H và anh Hồ Văn T vắng mặt.
Đại diện VKSND tỉnh Hà Tĩnh sau khi nhận xét việc chấp hành pháp luật của thẩm phán, thư ký và các đương sự đã phân tích nội dung vụ việc, các vấn đề đương sự đã thỏa thuận thống nhất được với nhau, đề nghị Tòa án áp dụng Điều 369, Điều 370 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, khoản 1 Điều 51, 55, 81, 82, 83 123, 127 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, Nghị quyết 326/2016/UBTVQHH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội chấp nhận yêu cầu của các đương sự: Công nhận sự thuận tình ly hôn giữa chị Nguyễn Thị H và anh Hồ Văn T. Công nhận sự thỏa thuận giao con chung Hồ Nguyễn Gia Bảo cho chị Nguyễn Thị H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, anh Hồ Văn T cấp dưỡng tiền nuôi con chung mỗi tháng 2.000.000đ kể từ thời điểm ly hôn đến khi con chung tròn 18 tuổi. Về tài sản chung, nợ chung: Các đương sự không yêu cầu, nên không xem xét. Về lệ phí: Chấp nhận sự tự nguyện nộp lệ phí ly hôn sơ thẩm của chị Nguyễn Thị H và lệ phí cấp dưỡng tiền nuôi con chung của anh Hồ Văn T.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc Hôn nhân gia đình đã được thẩm tra tại phiên họp và quan điểm của đại diện Viện kiểm sát; Tòa án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh nhận định:
Về tố tụng:
Chị Nguyễn Thị H và anh Hồ Văn T có đăng ký hộ khẩu thường trú tại huyện N, tỉnh Hà Tĩnh, đều có yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh giải quyết việc hôn nhân gia đình. Hiện tại, cả hai đương sự đang cư trú tại nước ngoài. Căn cứ quy định tại các Điều 29, 35, 37, 39 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh thụ lý và giải quyết là đúng thẩm quyền.
Quá trình giải quyết, Tòa án đã thực hiện đầy đủ các biện pháp thu thập chứng cứ theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự và hướng dẫn của Tòa án nhân dân Tối cao tại công văn số 253/TANDTC-PC ngày 26/11/2018 về giải quyết vụ án Ly hôn có bị đơn là người Việt Nam ở nước ngoài. Thông qua gia đình, anh Hồ Văn T đã trình bày đầy đủ quan điểm, nguyện vọng về các mối quan hệ hôn nhân, con chung, tài sản chung. Việc trình bày quan điểm của anh T được thực hiện đúng quy định.
Tại phiên họp, chị Nguyễn Thị H và anh Hồ Văn T vắng mặt, tuy nhiên cả hai đều có yêu cầu được vắng mặt trong toàn bộ quá trình giải quyết. Căn cứ quy định tại khoản 2 Điều 367 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành mở phiên họp giải quyết việc Hôn nhân gia đình vắng người yêu cầu theo thủ tục chung.
[2.] Về nội dung:
Quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị H và anh Hồ Văn T tự do tìm hiểu, tự nguyện kết hôn, tuân thủ các điều kiện và đăng ký kết hôn vào ngày 18 tháng 02 năm 2013 tại Ủy ban nhân dân xã C, huyện N, tỉnh Hà Tĩnh. Căn cứ quy định tại tại các Điều 9, 11, 12 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000, quan hệ hôn nhân của chị H và anh T là hợp pháp.
Xác định tình trạng hôn nhân của chị Nguyễn Thị H và anh Hồ Văn T thấy rằng:
Theo trình bày của hai anh chị thì vợ chồng mâu thuẫn trầm trọng, không có khả năng đoàn tụ. Nguyên nhân do anh T có quan hệ tình cảm với người phụ nữ khác, vợ chồng không còn quan tâm đến nhau, cả hai đều tự nguyện ly hôn, đã thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con chung sau ly hôn và về tài sản chung.
Như vậy, vợ chồng không thực hiện nghĩa vụ “Thương yêu, chung thủy, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau, cùng nhau chia sẽ thực hiện các công việc trong gia đình” (Khoản 1 Điều 19 Luật hôn nhân và gia đình) và “không cùng nhau xây dựng gia đình ấm no, tiến bộ, hạnh phúc”, mâu thuẫn trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được nên cần căn cứ quy định tại Điều 55 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014, công nhận sự thuận tình ly hôn của các đương sự.
Quan hệ con chung: Sự thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con chung sau ly hôn của chị Nguyễn Thị H và anh Hồ Văn T là phù hợp với quy định pháp luật, đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của con chung. Hiện tại cả hai đều đang lao động ở nước ngoài, bà Hồ Thị T (mẹ đẻ của chị Hanh) là nguời đang chăm sóc, nuôi dưỡng cháu Hồ Nguyễn Gia B nên việc thỏa thuận của các bên nhờ bà Hồ Thị T thay chị Nguyễn Thị H chăm sóc con chung trong thời gian chị H chưa về nước là phù hợp với thực tế và nguyện vọng của con chung.
Về nghĩa vụ cấp dưỡng tiền nuôi con chung: Chị Nguyễn Thị H và anh Hồ Văn T đã thống nhất được với nhau về mức cấp dưỡng tiền nuôi con chung sau ly hôn của anh T là 2.000.000đ kể từ thời điểm ly hôn đến khi con chung tròn 18 tuổi. Sự thỏa thuận này là tự nguyện, đúng quy định nên được chấp nhận.
Quan hệ tài sản chung, nợ chung: Các đương sự tự thỏa thuận, không yêu cầu giải quyết.
Lệ phí: Chị Nguyễn Thị H tự nguyện chịu lệ phí hôn nhân và gia đình anh Hồ Văn T chịu lệ phí cấp dưỡng nuôi con định kỳ.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ các Điều 29, 35, 37, 39, 361, 367, 369, 370, 371, Điều 149 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Khoản 3 Điều 2, các Điều 19, 51, 55, 81, 82, 83, 123, 127 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014, Điều 35, 37 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về án phí, lệ phí Tòa án:
1. Quan hệ hôn nhân: Công nhận sự thuận tình ly hôn giữa chị Nguyễn Thị H và anh Hồ Văn T.
2. Về con chung: Công nhận sự thỏa thuận giao con chung Hồ Nguyễn Gia B, sinh ngày 05/11/2013 cho chị Nguyễn Thị H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Trong thời gian chị H chưa về nước bà Hồ Thị T tự nguyện thay chị H chăm sóc, nuôi dưỡng con chung Hồ Nguyễn Gia B. Anh Hồ Văn T cấp dưỡng tiền nuôi con chung mỗi tháng 2.000.000đ kể từ thời điểm ly hôn đến khi con chung tròn 18 tuổi và có quyền đi lại thăm nom con chung không ai được ngăn cản.
3. Về lệ phí giải quyết việc Hôn nhân gia đình: Chấp nhận sự tự nguyện nộp 300.000đ lệ phí ly hôn sơ thẩm của chị Nguyễn Thị H (đã nộp 300.000đ (ba trăm ngàn đồng) tại biên lai số 0000101 ngày 10/02/2022 tại Cục thi hành án Dân sự tỉnh Hà Tĩnh). Anh Hồ Văn T phải nộp 300.000đ (ba trăm ngàn đồng) lệ phí cấp dưỡng nuôi con định kỳ.
4. Quyền kháng cáo, kháng nghị: Người yêu cầu giải quyết việc Hôn nhân và gia đình không có quyền kháng cáo, Viện kiểm sát cùng cấp, Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp không có quyền kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm đối với Quyết định này.
5. Quyết định này có hiệu lực pháp luật kể từ ngày 28/4/2022.
| Nơi nhận: - TAND cấp cao; - VKSND tỉnh Hà Tĩnh (2 bản); - Cục THADS tỉnh Hà Tĩnh; - UBND nơi thực hiện ĐKKH; - Đương sự ; - Lưu HS, TDS. | THẨM PHÁN- CHỦ TRÌ PHIÊN HỌP Bùi Văn Lam |