vanban.org

Quyết định 37/2022/QĐ-TA

TAND huyện Ea H'Leo, tỉnh Đắk Lắk Tuyên án 29/08/2022 Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với ông La Văn Đ, sinh năm 1988.

Nơi chấp hành: Cơ sở điều trị cai nghiện ma túy tỉnh Đắk Lắk. Địa chỉ: Thôn 4, xã Tân Tiến, huyện Krông Pắk, tỉnh Đắk Lắk. Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là 20 tháng (Hai mươi tháng) kể từ ngày người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính bị tạm giữ để đưa đi cơ sở cai nghiện bắt b… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? "La Văn Đạt"
  • Tòa quyết gì? Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với ông La Văn Đ, sinh năm 1988.
  • Căn cứ chính? Luật Phòng, chống ma túy; Điều 10 Luật Xử lý vi phạm hành chính; Điều 103 Luật Xử lý vi phạm hành chính
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN E
TỈNH ĐẮK LẮK

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 37/2022/QĐ-TAE, ngày 29 tháng 8 năm 2022

QUYẾT ĐỊNH

“Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc”

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN E, TỈNH ĐẮK LẮK

- Với thành phần tiến hành phiên họp gồm có:

1. Thẩm phán - Chủ trì phiên họp: Ông Đỗ Xuân Cường.

2. Thư ký phiên họp: Ông Nguyễn Thế Trường

Ngày 29 tháng 8 năm 2022. Tại trụ sở Toà án nhân dân huyện E, tỉnh Đắk Lắk tiến hành phiên họp xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc thụ lý số: 36/2022, ngày 19 tháng 8 năm 2022; theo Quyết định mở phiên họp số: 32/2022/QĐ-TA ngày 22 tháng 8 năm 2022, đối với:

Họ và tên: La Văn Đ, giới tính: Nam, sinh năm 1988; dân tộc: Tày; Tôn giáo: Không; trình độ văn hóa: 3/12; Quê quán: Tỉnh Cao Bằng; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở hiện nay: Thôn 6B, xã Ea W, huyện E, tỉnh Đăk Lăk; Tiền án: Không; Tiền sự: 01 tiền sự; con ông La Văn Thọ và bà Phùng Thị Reng; có vợ là bà Phùng Thị Lụa. Có mặt.

Với sự tham gia của:

1. Đại diện cơ quan đề nghị: Phòng Lao động thương binh & xã hội huyện E: Ông Nguyễn Anh Khuấn - Chức vụ: Phó trưởng phòng. Có mặt

2. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện E: Ông Trịnh Văn Hai - Chức vụ: Kiểm sát viên. Có mặt.

NHẬN THẤY:

Ngày 15/7/2022 La Văn Đ đã có đơn đề nghị xác đình tình trạng nghiện ma túy tại Trung tâm Y tế huyện E với kết quả xét nghiệm là có nghiện ma túy, loại Heroine. Trong biên bản tường trình thì Đ khai nhận mình có sử dụng ma túy từ năm 2010. Sau khi xét nghiệm có kết quả dương tính với chất ma túy, Công an xã Ea W đã có Thông báo số 28/TB-CAX, ngày 19/7/2022, về việc đăng ký cai nghiện tự nguyện tại gia đình, cộng đồng. Ngày 26/7/2022 Công an xã Ea W đã có biên bản xác minh tại UBND xã Ea W về việc Đ có đăng ký cai nghiện tự nguyện tại gia đình, cộng đồng hay không. Cùng ngày 26/7/2022 Công an xã Ea W đã lập biên bản vi phạm số 18/BB-VPHC, về việc Đ có sử dụng ma túy và không đi đăng ký cai nghiện tự nguyện tại gia đình, cộng đồng.

Tại phiên họp, đại diện Phòng Lao động thương binh & xã hội huyện E trình bày: La Văn Đ là người nghiện ma túy, Công an xã Ea W đã có Thông báo số 28/TB-CAX, ngày 19/7/2022, về việc đăng ký cai nghiện tự nguyện tại gia đình, cộng đồng, tuy nhiên Đ không đi đăng ký theo thông báo trên và bị Công Đ xã Ea W đã lập biên bản vi phạm, nên thuộc diện áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo quy định và đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa Đ đi cai nghiện tại Cơ sở điều trị cai nghiện ma túy tỉnh Đắk Lắk với thời hạn từ 20 tháng đến 22 tháng.

Tại phiên họp, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện E phát biểu ý kiến: Từ khi thụ lý cho đến khi mở phiên họp, Thẩm phán cũng như những người tham gia phiên họp đã tuân thủ đúng theo quy định của pháp luật. Mức đề nghị của Phòng Lao động Thương binh & Xã hội huyện E là có căn cứ.

Căn cứ vào tài liệu chứng cứ đã được thu thập trong hồ sơ, căn cứ kết quả tại phiên họp, ý kiến của những người tham gia phiên họp.

XÉT THẤY:

Về thẩm quyền xem xét, áp dụng biện pháp xử lý hành chính: Cơ quan đề nghị là Phòng Lao động Thương binh & Xã hội huyện E có trụ sở tại địa bàn huyện E, nên vụ việc thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện E theo quy định tại khoản 1 Điều 3 Pháp lệnh số 09/2014/UBTVQH13, ngày 20/01/2014 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Về thời hiệu: Ngày 26/7/2022 Công an xã Ea W đã lập biên bản vi phạm số 18/BB-VPHC, về việc Đ có nghiện ma túy và không đi đăng ký cai nghiện tự nguyện tại gia đình, cộng đồng theo thông báo. Đến ngày 16/8/2022 Phòng Lao động Thương binh & Xã hội huyện E có Công văn số 344/ĐN-CCBB, đề nghị Tòa án nhân dân huyện E xem xét, áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa La Văn Đ vào cơ sở cai nghiện bắt buộc là còn thời hiệu theo quy định tại khoản 2 Điều 6 Luật xử lý vi phạm hành chính.

Về nội dung: Xét đề nghị của Phòng Lao động Thương binh & Xã hội huyện E đề nghị Tòa án xem xét, áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa Đ vào cơ sở cai nghiện bắt buộc vì Đ là người nghiện ma túy. Theo Thông báo số 28/TB-CAX, ngày 19/7/2022, về việc đăng ký cai nghiện tự nguyện tại gia đình, cộng đồng, tuy nhiên Đ không đi đăng ký theo thời hạn của pháp luật quy định (05 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được thông báo) và bị Công an xã Ea W lập biên bản vi phạm. Tại điểm a khoản Điều 33 Nghị định số 116/2021/NĐ-CP ngày 21/12/2021 của Chính phủ quy định:

“1. Chủ tịch Ủy ban nhân dân hoặc Trưởng Công an cấp xã lập biên bản hành vi vi phạm theo Mẫu số 27 Phụ lục II Nghị định này để làm căn cứ lập hồ sơ đề nghị đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với các trường hợp sau:

a) Người nghiện ma túy không đăng ký cai nghiện tự nguyện;”

Kể từ khi phát hiện hành vi vi phạm hành chính của Đ cho đến khi hồ sơ được chuyển sang Tòa án, các cơ quan chức năng đã thực hiện đúng các trình tự, thủ tục theo quy định của pháp luật.

Xét đề nghị của đại diện Phòng Lao động thương binh & xã hội huyện E đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa Đ đi cai nghiện tại Cơ sở điều trị cai nghiện ma túy tỉnh Đắk Lắk: Qua xét nghiệm của Cơ quan y tế kết luận thì Đ là người nghiện ma túy, Công an xã Ea W lập biên bản về hành vi không đăng ký cai nghiện tự nguyện tại gia đình, cộng đồng theo quy định. Vì vậy, Đ thuộc đối tượng áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo quy định tại khoản 1 Điều 96 Luật xử lý vi phạm hành chính; điểm a khoản 1, Điều 33 Nghị định số 116/2021/NĐ-CP ngày 21/12/2021, của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Phòng, chống ma túy, Luật xử lý vi phạm hành chính về cai nghiện và quản lý sau cai nghiện ma túy. Nên đề nghị của Phòng Lao động thương binh & xã hội huyện E là có căn cứ.

Xét tính chất mức độ hành vi của La Văn Đ trong việc sử dụng ma túy là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước về ma túy.

Xét về nhân thân: Vào tháng 25/9/2019 La Văn Đ đã bị Tòa án áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, đến ngày 27/8/2020 đã chấp hành xong. Nhưng sau khi cai nghiện xong Đ không lấy đó làm bài học cho bản thân mà tiếp tục xử dụng ma túy, vì vậy cần áp dụng mức phạt thật nghiêm. Tuy nhiên, sau khi lập biên bản về hành vi không đăng ký cai nghiện tự nguyện tại gia đình, cộng đồng, Đ đã tự nguyện khai báo về hành vi vi phạm. Đây là tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 9 Luật xử lý vi phạm hành chính.

Xét đề nghị, của đại diện Phòng lao động Thương binh & Xã hội huyện E đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với La Văn Đ là có căn cứ, cần chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các Điều 6, 9, 10, 95, 96, 103 và Điều 104 Luật xử lý vi phạm hành chính; Điểm a khoản 1, Điều 33 Nghị định số 116/2021/NĐ-CP ngày 21/12/2021, của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Phòng, chống ma túy, Luật xử lý vi phạm hành chính về cai nghiện và quản lý sau cai nghiện ma túy

1. Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với ông La Văn Đ, sinh năm 1988.

Nơi chấp hành: Cơ sở điều trị cai nghiện ma túy tỉnh Đắk Lắk. Địa chỉ: Thôn 4, xã Tân Tiến, huyện Krông Pắk, tỉnh Đắk Lắk.

2. Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là 20 tháng (Hai mươi tháng) kể từ ngày người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính bị tạm giữ để đưa đi cơ sở cai nghiện bắt buộc.

Trong thời gian cai nghiện, trường hợp có thay đổi cơ sở cai nghiện bắt buộc, cơ quan có thẩm quyền có trách nhiệm thông báo cho cá nhân, cơ quan, tổ chức liên quan biết.

3. Người bị đề nghị có quyền khiếu nại Quyết định này trong thời hạn 03 (ba) ngày làm việc, kể từ ngày nhận được quyết định. Phòng Lao động thương binh & xã hội huyện E có quyền kiến nghị và Viện kiểm sát nhân dân huyện E có quyền kháng nghị Quyết định này trong thời hạn 03 (ba) ngày làm việc, kể từ ngày công bố quyết định.

4. Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị mà không có khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị.

5. Công an huyện E có trách nhiệm thi hành quyết định này ngay sau khi quyết định có hiệu lực pháp luật.

Cỡ chữ