- Tranh chấp gì? Yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn... — án hôn nhân và gia đình — "thuận tình ly hôn"
- Tòa quyết gì? Công nhận thuận tình ly hôn và sự thoả thuận của các đương sự cụ thể như sau:
- Căn cứ chính? Điều 107 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 110 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 116 Luật Hôn nhân và gia đình
| TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN BÌNH THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 364/2020/QĐST-HNGĐ | Tân Bình, ngày 04 tháng 6 năm 2020 |
QUYẾT ĐỊNH
CÔNG NHẬN THUẬN TÌNH LY HÔN
VÀ SỰ THỎA THUẬN CỦA CÁC ĐƯƠNG SỰ
Căn cứ Điều 212, Điều 213 và Điều 397 Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ Điều 55, 57, 58, 81, 82, 83, 84, 107, 110, 116, 117 Luật Hôn nhân và Gia đình;
Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Sau khi nghiên cứu hồ sơ việc dân sự thụ lý số 339/2020/TLST-HNGĐ ngày 20 tháng 5 năm 2020 về việc “Yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn, thỏa thuận nuôi con, chia tài sản khi ly hôn”, gồm những người tham gia tố tụng sau đây:
- Người yêu cầu giải quyết việc dân sự:
1/ Ông Trần Kim A, sinh năm 1985.
Địa chỉ: 142 Đường P, Phường 12, quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí
Minh.
2/ Bà Nguyễn Thị Ngọc B, sinh năm 1989.
Địa chỉ: 142 Đường P, Phường 12, quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí
Minh.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào Giấy chứng nhận kết hôn số 153/2009, quyển số 01/P.12 do Ủy ban nhân dân Phường 12, quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 10/9/2009 thì ông Trần Kim A và bà Nguyễn Thị Ngọc B là vợ chồng hợp pháp, nay cả hai yêu cầu được công nhận thuận tình ly hôn là phù hợp với quy định của luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
Xét thỏa thuận của các đương sự:
Về quan hệ hôn nhân: Ông Trần Kim A và bà Nguyễn Thị Ngọc B cùng trình bày ông bà tự nguyện chung sống, có tổ chức lễ cưới và đăng ký kết hôn. Trong quá trình chung sống vợ chồng phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng không đồng thuận với nhau trong cuộc sống và cả hai không cùng xây dựng hạnh phúc gia đình. Hai vợ chồng đã ly thân từ 01/2020 đến nay. Nay nhận thấy tình cảm không còn, mục đích của hôn nhân không đạt được, do đó yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn của ông A và bà B là tự nguyện, phù hợp với quy định tại Điều 55 Luật hôn nhân gia đình nên ghi nhận.
Về con chung: Có 02 con chung tên Trần Kim C, sinh ngày 15/5/2011 và Trần Kim D – sinh ngày 01/11/2012. Hai bên thỏa thuận bà B trực tiếp nuôi dưỡng trẻ C, ông A trực tiếp nuôi dưỡng trẻ D, ông A cấp dưỡng 3.000.000đ/tháng (Ba triệu đồng) cho trẻ C, bà B không cấp dưỡng nuôi con nên Tòa án công nhận.
Về tài sản chung: Hai bên khai không có nên Tòa không xem xét.
Về nợ chung: Hai bên khai không có nên Tòa không xem xét.
Về lệ phí Tòa án: Lệ phí là 300.000 (Ba trăm ngàn) đồng do ông Trần Kim A và bà Nguyễn Thị Ngọc B chịu.
Đã hết thời hạn 07 ngày, kể từ ngày lập Biên bản hòa giải đoàn tụ không thành, không có đương sự nào thay đổi ý kiến về sự thoả thuận đó.
QUYẾT ĐỊNH:
1. Công nhận thuận tình ly hôn và sự thoả thuận của các đương sự cụ thể như sau:
- Về quan hệ hôn nhân: Ông Trần Kim A và bà Nguyễn Thị Ngọc B thuận tình ly hôn (Ông Trần Kim A và bà Nguyễn Thị Ngọc B đăng ký kết hôn theo Giấy chứng nhận kết hôn số 153/2009, quyển số 01/P.12 do Ủy ban nhân dân Phường 12, quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 10/9/2009).
- Về con chung: Có 02 con chung tên Trần Kim C, sinh ngày 15/5/2011 và Trần Kim D – sinh ngày 01/11/2012. Hai bên thỏa thuận bà B trực tiếp nuôi dưỡng trẻ C, ông A trực tiếp nuôi dưỡng trẻ D, ông A cấp dưỡng 3.000.000đ/tháng (Ba triệu đồng) cho đến khi trẻ C thành niên, bắt đầu cấp dưỡng từ tháng 6/2020. Bà B không cấp dưỡng nuôi con.
Khi có lý do chính đáng mức cấp dưỡng và phương thức cấp dưỡng có thể thay đổi.
Người không trực tiếp nuôi con có quyền, ngh a vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở ho c gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.
Cha, m trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.
Trong trường hợp có yêu cầu của cha, m ho c cá nhân, tổ chức theo qui định tại khoản 5 điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con.
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án người được thi hành án (đối với khoản tiền cấp dưỡng nuôi con) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn lại phải thi hành theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, 468 của Bộ luật dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
- Về tài sản chung và nợ chung: Hai bên khai không có.
2. Về lệ phí Tòa án: 300.000 đồng (Ba trăm ngàn) ông Trần Kim A phải chịu 150.000 đồng; bà Nguyễn Thị Ngọc B phải chịu 150.000 đồng, chuyển số tiền tạm nộp lệ phí 300.000 đồng (Ba trăm ngàn) ông A bà B đã nộp theo biên lai thu số AA/2019/0016274 ngày 15/5/2020 của Chi cục thi hành án dân sự quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh thành tiền lệ phí. Ông A, bà B đã nộp đủ lệ phí.
3. Quyết định này có hiệu lực pháp luật ngay sau khi được ban hành và không bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm.
| Nơi nhận: - Các đương sự; - VKSND Q. Tân Bình; - UBND P.12, Q. TB; - THADS Q. Tân Bình; - Lưu: Hồ sơ việc dân sự. | THẨM PHÁN Võ Văn Đức |