vanban.org

Quyết định 346/2025/QĐPT-KDTM — Yêu cầu hủy bỏ nghị quyết của Đại hội đồng cổ đông, nghị quyết của Hội đồng thành viên theo quy định của pháp luât về doanh nghiệp

TAND TP. Hồ Chí Minh Tuyên án 29/09/2025 Kinh doanh thương mại Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 29/09/2025 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Áp dụng: Khoản 2 Điều 370, điểm a khoản 3 Điều 375 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Khoản 2 Điều 37 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định vế án phí, lệ phí tòa án;

Chấp nhận một phần kháng cáo của Công ty DH, sửa Quyết định sơ thẩm giải quyết việc dân sự: Chấp nhận một phần yêu cầu của Công ty Cổ phần DH: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Yêu cầu hủy bỏ nghị quyết của Đại hội đồng cổ đông, nghị quyết của Hội đồng thành viên theo quy định của pháp luât về doanh nghiệp — án kinh doanh thương mại — "Công ty DH - Công ty P"
  • Tòa quyết gì? Áp dụng: Khoản 2 Điều 370, điểm a khoản 3 Điều 375 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Khoản 2 Điều 37 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định vế án phí, lệ phí tòa án;
  • Căn cứ chính? Điều 37 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 370 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 375 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 346/2025/QĐPT-KDTMThành phố Hồ Chí Minh, ngày 29 tháng 9 năm 2025

QUYẾT ĐỊNH

PHÚC THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ

V/v yêu cầu hủy nghị quyết Đại hội đồng cổ đông

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Với thành phần giải quyết việc dân sự:

Thẩm phán, Chủ tọa phiên họp: Ông Ngô Thanh Nhàn

Các Thẩm phán:

Bà Hoàng Thị Bích Thảo

Bà Ngô Thị Phúc Hảo

Thư ký phiên họp: Bà Trịnh Ngọc Hân

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên họp: Ông Tôn Mạnh Hùng, Kiểm sát viên

Trong các ngày 26/8/2025, ngày 08/9/2025 và ngày 29/9/2025 Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh đã tiến hành mở phiên họp giải quyết việc dân sự thụ lý số 156/TLPT-KDTM ngày 20 tháng 5 năm 2025 về việc “Yêu cầu hủy Nghị quyết của đại hội đồng cổ đông”. Do quyết định giải quyết việc dân sự số 21/2025/QĐST-KDTM ngày 23/4/2025 của Tòa án nhân dân Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh bị kháng cáo.

Theo Quyết định mở phiên họp số 4976/2025/QĐXX-PT ngày 15/8/2025, Quyết định tạm ngừng phiên họp số 15860/2025/QĐ-PT ngày 26/8/2025, Quyết định tạm ngừng phiên họp số số 16820/2025/QĐ-PT ngày 08/9/2025 và Thông báo thay đổi thời gian mở phiên họp số 17386/TB-TA ngày 22/9/2025, giữa:

Người yêu cầu: Công ty Cổ phần DH; địa chỉ: Phòng 904, Tầng 9, Tòa nhà D, số 34 D1, phường D2 (trước đây là phường D’, Quận D’’), Thành phố Hồ Chí Minh; người đại diện theo ủy quyền: Ông Trần Vũ H, bà Phan Minh N, ông Nguyễn Hoàng Nguyên A (Theo Giấy ủy quyền ngày 24/6/2025) – ông H có mặt ngày 26/8/2025, 08/9/2025 và vắng mặt ngày 29/9/2025; bà N và ông Nguyên A có mặt;

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp: ông Bùi Ngọc H - có mặt, ông Huỳnh Thanh T - vắng mặt.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Công ty Cổ phần W; địa chỉ: Tầng 2, Tòa nhà N7, số 3 A, phường A1 (trước đây là Phường A’, Quận A’’), Thành phố Hồ Chí Minh; người đại diện theo ủy quyền: bà Nguyễn Thị C (Theo Giấy ủy quyền ngày 11/02/2025) - có mặt

Người kháng cáo: Công ty Cổ phần DH.

NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ:

Theo lời trình bày của các đương sự và tài liệu chứng cứ có tại hồ sơ, có cơ sở xác định như sau:

Công ty Cổ phần W (sau đây gọi là Công ty W) được thành lập năm 2021 với 03 cổ đông sáng lập gồm ông Phạm Minh Tsở hữu 51% tỉ lệ vốn góp, Công ty Cổ phần DH (sau đây gọi là Công ty DH) sở hữu 33% tỉ lệ vốn góp và ông Vũ Khánh V sở hữu 16% tỉ lệ vốn góp; đồng thời từ khi thành lập vào năm 2021 đến nay công ty chưa có Hội đồng quản trị và Ban kiểm soát theo quy định của Điều 28 và Điều 44 Điều lệ công ty.

Ngày 06 tháng 09 năm 2024, Công ty W đã tổ chức cuộc họp Đại hội đồng cổ đồng (viết tắt là ĐHĐCĐ”) năm 2024. Tại cuộc họp này, ĐHĐCĐ đã thông qua 02/04 tờ trình trong đó có Tờ trình số 4 (thông qua giải thể Công ty W). Sau phiên họp ĐHĐCĐ, ông Phạm Minh T là Chủ tịch Hội đồng quản trị đã thay mặt ĐHĐCĐ Ban hành nghị quyết Đại hội đồng cổ đông số 02/2024/NQ-ĐHĐCĐ ngày 06 tháng 09 năm 2024 với những nội dung để tiến hành giải thể công ty (sau đây gọi là Nghị quyết ĐHĐCĐ số 02).

Công ty DH cho rằng Nghị quyết ĐHĐCĐ số 02 được ban hành trên cơ sở cuộc họp được tiến hành theo trình tự, thủ tục và biểu quyết thông qua nhiều nội dung trong có có nội dung về việc giải thể công ty không đúng theo quy định của Điều lệ công ty và Luật Doanh nghiệp nên yêu cầu Tòa án hủy bỏ Nghị quyết ĐHĐCĐ số 02. Cụ thể các lý do:

- Chủ tịch Hội đồng quản trị lập, ký các Tờ trình này là trái thẩm quyền - do Công ty W chưa bầu Hội đồng quản trị, trong khi đó, thẩm quyền lập và trình ra ĐHĐCĐ để xem xét biểu quyết phải là của Hội đồng quản trị (gọi tắt là HĐQT). Tuy nhiên, các cổ đông còn lại của Công ty W vẫn đồng ý đưa các nội dung này vào chương trình cuộc họp để lấy ý kiến biểu quyết và đã biểu quyết thông qua, bao gồm cả Tờ trình số 4 (thông qua giải thể Công ty W).

Theo quy định của Luật Doanh nghiệp 2020 (điểm p, khoản 2 Điều 153) và Điều lệ của Công ty W (điểm p, khoản 2, Điều 28) thì “kiến nghị việc tổ chức lại, giải thể công ty; yêu cầu phá sản công ty thuộc về thẩm quyền của HĐQT, không thuộc phạm vi thẩm quyền của Chủ tịch HĐQT.

Bên cạnh đó, các báo cáo tài chính trong 03 năm hoạt động chỉ được gửi cho các cổ đông trước 01 tháng trước ngày tổ chức ĐHĐCĐ mà không có giải trình cụ thể.

Công ty W không đồng ý yêu cầu hủy bỏ nghị quyết với lý do:

Để giải quyết các vấn đề nội bộ và theo đề nghị của cổ đông, Công ty W đã thông báo đến Công ty DH về kế hoạch sẽ tổ chức ĐHĐCĐ được diễn ra vào ngày 06/09/2024 và đã tiến hành gửi thư mời họp và tài liệu họp đến từng cổ đông vào ngày 16/08/2024.

Việc tổ chức họp ĐHĐCĐ và biểu quyết thông các vấn đề tại cuộc họp đều thực hiện theo đúng quy định. Cụ thể:

- Cổ đông, người đại điện uỷ quyền của các cổ đồng đều tham dự đầy đủ (đạt tỷ lệ 100%)

- Các vấn đề đưa ra biểu quyết tại cuộc họp thuộc thẩm quyền ĐHĐCĐ đều được nêu trong tài liệu họp gửi cổ đông từ trước. Trước những khó khăn hiện tại của Công ty trong việc duy trì hoạt động kinh doanh, không có khả năng tiếp tục hoạt động hiệu quả và không thể thực hiện được các mục tiêu kinh doanh đề ra, Công ty W cho rằng việc giải thể là điều cần thiết nên đề nghị để ĐHĐCĐ xem xét quyết định.

- Theo quy định tại điểm i khoản 2 Điều 138 Luật Doanh nghiệp 2020, ĐHĐCĐ có quyền: "Quyết định tổ chức lại, giải thể công ty”. Do đó, ĐHĐCĐ xem xét, trực tiếp quyết định về việc giải thể công ty là đúng thẩm quyền, phù hợp với quy định pháp luật.

- Căn cứ kết quả biểu quyết, đối với nội dung Tờ trình 04 - Giải thể và dự thảo nghị quyết về việc giải thể, ĐHĐCĐ tiến hành bỏ phiếu và đạt tỷ lệ tán thành là 67%, đủ điều kiện thông qua theo quy định pháp luật. Do đó, Công ty W ban hành nghị quyết số 02/2024/NQ-ĐHĐCĐ ngày 06/9/2024 ĐHDCDĐ về việc giải thể là phù hợp với quy định pháp luật.

Quyết định sơ thẩm giải quyết việc dân sự số 21/2025/QĐST-KDTM ngày 23/4/2025 của Tòa án nhân dân Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh đã quyết định:

Không chấp nhận yêu cầu của Công ty Cổ phần DH về hủy Nghị quyết cuộc họp Đại hội đồng cổ đông số 02/2024/NQ-ĐHĐCĐ ngày 06/9/2024 của Công ty cổ phần W thông qua việc giải thể công ty.

Ngoài ra quyết định còn tuyên về nghĩa vụ chịu lệ phí, quyền kháng cáo và nghĩa vụ thi hành án của đương sự.

Ngày 28/4/2025, Công ty DH nộp đơn kháng cáo với lý do Tòa án cấp sơ thẩm đã không xem xét một cách khách quan và toàn diện các tài liệu, chứng cứ và lời trình bày của người yêu cầu, dẫn đến ban hành Quyết định sơ thẩm không phù hợp với quy định của pháp luật.

Tại phiên họp phúc thẩm:

- Đại diện người yêu cầu trình bày: Giữ nguyên kháng cáo và những căn cứ yêu cầu hủy nghị quyết ĐHĐCĐ số 02 đã trình bày tại cấp sơ thẩm, đồng thời bổ sung thêm những căn cứ sau đây:

Công ty W chưa có Hội đồng quản trị nên ông Phạm Minh T là chủ tịch Hội đồng quản trị không có quyền nhân danh Hội đồng quản trị để triệu tập họp ĐHĐCĐ công ty và thông qua nghị quyết về giải thể công ty;

Thời gian tổ chức cuộc họp ĐHĐCĐ ngày 06/9/2025 là không phù hợp quy định pháp luật và điều lệ công ty. Cụ thể khoản 2 Điều lệ công ty quy định, Đại hội thường niên phải được tổ chức trong thời hạn 4 tháng kể từ ngày kết thúc năm tài chính (là ngày 31/12/2023);

Tờ trình 04 về việc giải thể công ty và các tờ trình khác do Chủ tịch Hội đồng quản trị ký mà không có Hội đồng quản trị thông qua là vi phạm Điều lệ công ty và Luật Doanh nghiệp;

Nghị quyết ĐHĐCĐ số 02 thông qua việc giải thể công ty trong khi vẫn còn các khoản nợ chưa tất toán là trái với quy định của pháp luật.

Nghị quyết ĐHĐCĐ số 02 không tuân thủ các nội dung bắt buộc của quyết định giải thể công ty theo quy định của khoản 1 Điều 208 Luật Doanh nghiệp, nội dung Nghị quyết giao sai chủ thể thực hiện nhiệm vụ thanh lý tài sản, không đáp ứng điều kiện có hiệu lực theo quy định của khoản 2 Điều 152 Luật Doanh nghiệp.

Cấp sơ thẩm có vi phạm trình tự tố tụng khi thực hiện thủ tục công khai chứng cứ và hòa giải đối với yêu cầu hủy nghị quyết đại hội đồng cổ đông và đưa thiếu người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vào tham gia tố tụng.

Đề nghị cấp phúc thẩm sửa án sơ thẩm, chấp nhận yêu cầu của Công ty DH về việc hủy bỏ nghị quyết số 02/2024/NQ-ĐHĐCĐ ngày 06/9/2024 của ĐHĐCĐ Công ty W thông qua việc giải thể công ty.

Người bảo về quyền và lợi ích hợp pháp của người yêu cầu trình bày bổ sung căn cứ để yêu cầu hủy nghị quyết như sau: Cuộc họp ĐHĐCĐ ngày 6/9/2024 của Công ty W còn có những vi phạm như:

Thông qua báo cáo tài chính năm 2021 – 2023 theo Tờ trình 02 là trái điều lệ công ty;

Không lập danh sách cổ đông có quyền dự họp dự kiến tổ chức ngày 6/9/2024 là trái điều lệ;

Việc ông Phạm Minh T đồng ý thông qua tờ trình 01 và 03 trong phiếu biểu quyết của mình là không phù hợp do không có quyền biểu quyết dẫn đến toàn bộ phiếu biểu quyết của ông Triết là không hợp lệ;

Phiếu biểu quyết, biên bản cuộc họp và nghị quyết cuộc họp ngày 06/9/2025 không ghi nhận thông qua báo cáo tài chính của Hội đồng quản trị là vi phạm nghiêm trọng quy định về thủ tục họp ĐHĐCĐ.

Kiến nghị chấp nhận toàn bộ kháng cáo của người yêu cầu.

Đại diện người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trình bày: Căn cứ nội dung đã trình bày tại cấp sơ thẩm đề nghị không chấp nhận kháng cáo, giữ nguyên quyết định sơ thẩm.

Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh:

Qua kiểm sát vụ án từ khi thụ lý hồ sơ đến thời điểm xét xử thấy rằng Thẩm phán đã chấp hành đúng quy định về thẩm quyền giải quyết vụ án, xác định đúng quan hệ tranh chấp, xác định tư cách người tham gia tố tụng trong vụ án, tiến hành lập hồ sơ, ra quyết định mở phiên họp và gửi hồ sơ cho Viện kiểm sát nghiên cứu đúng thời hạn, việc cấp và tống đạt các văn bản tố tụng cho người tham gia tố tụng và Viện kiểm sát theo đúng quy định tại Điều 41 Bộ luật Tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ việc dân sự.

Việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét phiên họp: Phiên họp tiến hành đúng trình tự pháp luật Tố tụng dân sự.

Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng: Từ khi thụ lý cũng như tại phiên họp hôm nay người yêu cầu và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã thực hiện đúng các quyền và nghĩa vụ quy định.

Về nội dung: Kháng cáo của người yêu cầu Công ty DH là không có cơ sở. Đề nghị giữ nguyên Quyết định giải quyết việc dân sự số 21/2025/QĐST-KDTM ngày 23 tháng 4 năm 2025 của Tòa án nhân dân Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp; ý kiến của các đương sự và đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tại phiên họp:

[1] Cấp sơ thẩm thụ lý giải quyết vụ việc dân sự đúng theo thẩm quyền, xác định tư cách tham gia tố tụng của các đương sự đúng theo quy định tại khoản 1 Điều 31, điểm c khoản 2 Điều 35, điểm u khoản 2 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Đơn kháng cáo của Công ty DH còn trong thời hạn kháng cáo, có hình thức và nội dung đúng quy định tại Điều 371, Điều 372 Bộ luật Tố tụng dân sự nên được chấp nhận.

Xét kháng cáo của Công ty DH:

Về thẩm quyền, trình tự thủ tục triệu tập cuộc họp ĐHĐCĐ: Công ty DH cho rằng việc ông Phạm Minh T là chủ tịch Hội đồng quản trị triệu tập cuộc họp Đại hội đồng cổ đông ngày 06/9/2024 của Công ty W là vi phạm thủ tục luật định khi Công ty W chưa thành lập Hội đồng quản trị và việc ông Phạm Minh T - Chủ tịch Hội đồng quản trị lập, ký 04 Tờ trình đưa ra biểu quyết trong cuộc họp ĐHĐCĐ là trái thẩm quyền do thẩm quyền lập và trình ra Đại hội đồng cổ đông phải là của Hội đồng quản trị; thời điểm tổ chức cuộc họp ĐHĐCĐ ngày 06/9/2025 là không phù hợp quy định pháp luật và điều lệ công ty. Cụ thể khoản 2 Điều lệ công ty quy định, Đại hội thường niên phải được tổ chức trong thời hạn 4 tháng kể từ ngày kết thúc năm tài chính (là ngày 31/12/2023). Đây là những nội dung khiếu nại liên quan về thẩm quyền, trình tự, thủ tục triệu tập họp ĐHĐCĐ, nên cần xem xét:

Việc triệu tập họp Đại hội đồng cổ đông được quy định tại Điều 33 Điều lệ công ty như sau: “1. Đại hội đồng cổ đông họp thường niên mỗi năm một lần. Ngoài cuộc họp thường niên, Đại hội đồng, cổ đông có thể họp bất thường (…); 2. Đại hội đồng cổ đông phải họp thường niên trong thời hạn 4 tháng kể từ ngày kết thúc năm tài chính (…) Hội đồng quản trị quyết định gia hạn (…) nhưng không quá 06 tháng kể từ ngày kết thúc năm tài chính; (…) 4.Hội đồng quản trị triệu tập họp Đại hội đồng cổ đông thường niên và bất thường. Hội đồng quản trị triệu tập họp bất thường Đại hội đồng cổ đông trong trường hợp sau đây: a) Hội đồng quản trị xét thấy cần thiết vị lợi ích của công ty; (…)”.

Qua xem xét các tài liệu, chứng cứ do Công ty W giao nộp gồm Nghị quyết ĐHĐCĐ bất thường số 02/NQ-WD ngày 14/02/2022, Biên bản họp ĐHĐCĐ bất thường và Nghị quyết ĐHĐCĐ bất thường số 03/NQ- WD cùng ngày 12/9/2023 và lời trình bày của các đương sự cho thấy: Công ty W chỉ có 03 cổ đông là ông Phạm Minh T sở hữu 51% cổ phần, Công ty DH sở hữu 33% cổ phần và ông Vũ Khánh Vy sở hữu 16% cổ phần; đồng thời từ khi thành lập vào năm 2021 đến nay công ty không có Hội đồng quản trị và Ban kiểm soát theo quy định của Điều 28 và Điều 44 Điều lệ công ty. Trong thời gian hoạt động đã qua công ty đã 02 lần tổ chức họp ĐHĐCĐ bất thường để thông qua các nghị quyết vào ngày 14/02/2022 và ngày 12/9/2023 với sự tham gia đầy đủ của 03 cổ đông công ty mà không có cổ đông nào có ý kiến phản đối về thẩm quyền triệu tập họp ĐHĐCĐ và khiếu nại việc ban hành nghị quyết của Đại hội đồng cổ đông. Ngoài ra, suốt thời gian hoạt động cho đến trước khi diễn ra cuộc họp ĐHĐCĐ ngày 06/9/2024 thì không có cổ đông nào kể cả cổ đông là Công ty DH đưa ra yêu cầu phải thành lập Hội đồng quản trị và Ban kiểm soát theo đúng quy định của Điều 28 và Điều 44 Điều lệ công ty. Vì vậy, việc triệu tập phiên họp ĐHĐCĐ ngày 06/9/2024 được Công ty W xác định là phiên họp ĐHĐCĐ bất thường nhằm xem xét giải quyết các vấn đề cấp bách thể hiện trong 04 Tờ trình là phù hợp quy định của điểm a khoản 4 Điều 33 Điều lệ công ty. Tại phiên họp ĐHĐCĐ ngày 06/9/2024, Công ty DH cho rằng việc triệu tập và đề xuất những nội dung cần đưa ra biểu quyết tại cuộc họp phải do Hội đồng quản trị công ty đề xuất, thông qua trước là không phù hợp với thực tế hoạt động tại Công ty W và không thể thực hiện được. Mặt khác, theo quy định tại điểm i, khoản 2 Điều 27 Điều lệ công ty quy định thì việc giải thể công ty phải do ĐHĐCĐ quyết định chứ không phải do Hội đồng quản trị công ty có quyền quyết định. Vì vậy, những nội dung trình bày kháng cáo này của Công ty DH là không có căn cứ.

Về nội dung nghị quyết ban hành: Xét kháng cáo của Công ty DH cho rằng Nghị quyết ĐHĐCĐ số 02/2024/NQ-ĐHCĐCĐ ngày 06/9/2024 của Công ty W thông qua việc giải thể công ty là trái quy định của pháp luật, không tuân thủ các nội dung bắt buộc về giải thể công ty, vi phạm quy định pháp luật và Điều lệ công ty khi giao sai chủ thể thực hiện nhiệm vụ thanh lý tài sản. Đây là nôi dung khiếu nại liên quan đến nội dung nghị quyết của ĐHĐCĐ, nên cần xem xét:

Việc giải thể công ty được quy định trong Điều lệ công ty và Luật Doanh nghiệp như sau:

Tại điểm i khoản 2 Điều 27 Điều lệ công ty quy định: “ 2. Đại hội đồng cổ đông có các quyền và nghĩa vụ sau đây: (…) i) Quyết định tổ chức lại, giải thể công ty”;

Tại điểm g khoản 2 Điều 39 Điều lệ công ty quy định: “(…) nghị quyết Đại hội đồng cổ đông về các vấn đề sau đây phải được biểu quyết thông qua bằng hình thức biểu quyết tại cuộc họp Đại hội đồng cổ đông: (…) g) Tổ chức lại, giải thể công ty”;

Tại điểm đ khoản 1 Điều 148 Luật Doanh nghiệp quy định: “1. Nghị quyết về nội dung sau đây được thông qua nếu được số cổ đông đại diện từ 65% tổng số phiếu biểu quyết trở lên của tất cả các cổ đông dự họp tán thành (…)”;

Tại Điều 207 Luật Doanh nghiệp quy định về các trường hợp và điều kiện giải thể doanh nghiệp: “1. Doanh nghiệp bị giải thể trong trường hợp sau đây: (…) b) Theo nghị quyết, (…) của Đại hội đồng cổ đông đối với công ty cổ phần; (…) 2. Doanh nghiệp chỉ được giải thể khi bảo đảm thanh toán hết các khoản nợ, nghĩa vụ tài sản khác và không trong quá trình giải quyết tranh chấp tại Tòa án hoặc Trọng tài. Người quản lý có liên quan và doanh nghiệp quy định tại điểm d khoản 1 Điều này cùng liên đới chịu trách nhiệm về các khoản nợ của doanh nghiệp.”;

Tại Điều 208 Luật Doanh nghiệp quy định về trình tự, thủ tục giải thể doanh nghiệp: “Việc giải thể doanh nghiệp trong trường hợp quy định tại các điểm a, b và c khoản 1 Điều 207 của Luật này được thực hiện theo quy định sau đây: (…); 3. Trong thời hạn 07 ngày làm việc kể từ ngày thông qua, nghị quyết, quyết định giải thể và biên bản họp phải được gửi đến Cơ quan đăng ký kinh doanh, cơ quan thuế, người lao động trong doanh nghiệp. Nghị quyết, quyết định giải thể phải được đăng trên Cổng thông tin quốc gia về đăng ký doanh nghiệp và được niêm yết công khai tại trụ sở chính, chi nhánh, văn phòng đại diện của doanh nghiệp; Trường hợp doanh nghiệp còn nghĩa vụ tài chính chưa thanh toán thì phải gửi kèm theo nghị quyết, quyết định giải thể và phương án giải quyết nợ đến các chủ nợ, người có quyền, nghĩa vụ và lợi ích có liên quan. Phương án giải quyết nợ phải có tên, địa chỉ của chủ nợ; số nợ, thời hạn, địa điểm và phương thức thanh toán số nợ đó; cách thức và thời hạn giải quyết khiếu nại của chủ nợ;(…)”;

Xét, lý do kháng cáo của Công ty DH về việc ĐHĐCĐ công ty biểu quyết thông qua việc giải thể công ty khi công ty đang còn có những khoản nợ và nghĩa vụ thuế là trái luật: Nhận thấy, theo quy định tại khoản 3 Điều 208 Luật Doanh nghiệp thì: “(…)Trường hợp doanh nghiệp còn nghĩa vụ tài chính chưa thanh toán thì phải gửi kèm theo nghị quyết, quyết định giải thể và phương án giải quyết nợ đến các chủ nợ, người có quyền, nghĩa vụ và lợi ích có liên quan(…). Như vậy, lý do nêu ra của Công ty DH là doanh nghiệp còn nợ thì không được ban hành nghị quyết có nội dung giải thể doanh nghiệp là không phù hợp với trình tự thủ tục giải thể doanh nghiệp được quy định tại điểm b Điều 207 và khoản 3 Điều 208 Luật Doanh nghiệp nên không được chấp nhận.

Xét lý do kháng cáo của Công ty DH về nội dung Nghị quyết ĐHĐCĐ số 02/2024/NQ-ĐHCĐCĐ là trái luật: Nhận thấy, theo biên bản họp ĐHĐCĐ ngày 06/9/2024 thể hiện số cổ đông dự họp là 3/3 đạt tỷ lệ 100% tổng số phiếu có quyền biểu quyết, nên đủ điều kiện tiến hành họp ĐHĐCĐ theo quy định tại Điều 145 Luật Doanh nghiệp. Tại phiên họp, các cổ đông đã thảo luận và biểu quyết đối với 04 nhóm nội dung tại 04 Tờ trình, cụ thể kết quả biểu quyết tán thành đối với Tờ trình 02 và Tờ trình 04 đạt tỉ lệ 67% và đối với Tờ trình 01 và tờ Trình 03 chỉ đạt 32,65%. Như vậy, với tỉ lệ 67% tại cuộc họp thì Tờ trình 02 và Tờ trình 04 đạt đủ tỉ lệ để được thông qua. Vì vậy, các nội dung được ghi nhận trong Tờ trình 02 và Tờ trình 04 đã được thông qua tại cuộc họp ĐHĐCĐ ngày 06/9/2024 là phù hợp với quy định tại điểm i khoản 1 Điều 27, điểm g khoản 2 Điều 39 Điều lệ công ty và điểm đ khoản 1 Điều 148 Luật Doanh nghiệp.

Xét việc ban hành Nghị quyết ĐHĐCĐ số 02/2024/NQ-ĐHCĐCĐ: Nhận thấy, trong các nội dung của Tờ trình 04 có nội dung về việc giải thể Công ty Cổ phần W, cụ thể như sau:

“II. ĐỀ XUẤT GIẢI THỂ CÔNG TY: Căn cứ vào tình hình hoạt động thực tế và các khó khăn hiện tại, Chủ tịch Hội đồng quản trị đại diện đề xuất Đại hội đồng cổ đông xem xét và thông qua việc giải thể Công ty Cổ phần W; Việc giải thể Công ty sẽ được thực hiện theo quy định của Luật Doanh nghiệp và các quy định pháp luật có liên quan;

III. CÁC BƯỚC TIẾN HÀNH GIẢI THỂ: Thông qua quyết định giải thể tại Đại hội đồng cổ đông; Thành lập Ban thanh lý tài sản để thực hiện việc thanh lý các tài sản của Công ty; Thực hiện các thủ tục giải thể tại cơ quan Nhà nước có thẩm quyền;

IV. KIẾN NGHỊ: Kính đề nghị Đại hội đồng cổ đông thông qua Tờ trình này để Chủ tịch Hội đồng quản trị có cơ sở triển khai các bước tiếp theo trong việc giải thể Công ty Cổ phần W”

Như vậy, về hình thức thì Nghị quyết số 02/2024/NQ-ĐHĐCĐ ngày 06/9/2024 do ông Phạm Minh Tlà Chủ tịch Hội đồng quản trị Công ty W, thay mặt ĐHĐCĐ ban hành sau cuộc họp trên cơ sở của một nội dung cụ thể trong Tờ trình 04, đó là nội dung về giải thể công ty. Nghị quyết số 02/2024/NQ-ĐHĐCĐ có những nội dung cụ thể như sau:

“Điều 1: Nay quyết định: Thông qua việc tiến hành giải thể Công ty cổ phần W theo quy định pháp luật;

Lý do: Hoạt động kinh doanh không hiệu quả;

Điều 2: Thành lập Ban thanh lý tài sản: Đại hội đồng cổ đông quyết định thành lập Ban thanh lý tài sản gồm các thành viên: Ông Phạm Minh T– Chủ tịch Hội đồng quản trị – Trưởng Ban; Ông Phạm Minh T’ – Giám đốc – Thành viên; Bà Hồ Thị Thùy T’’– Kế toán – Thành viên;

Ban thanh lý tài sản có nhiệm vụ thực hiện việc thanh lý toàn bộ tài sản của Công ty (tài sản cố định, công cụ dụng cụ; đầu tư cổ phần tại Công ty cổ phần B, tại Công ty cổ phần Đầu tư Sáng tạo G) và thanh toán các khoản nợ của Công ty theo thứ tự ưu tiên theo quy định pháp luật.

Điều 3: Giao cho Chủ tịch Hội đồng quản trị, người đại diện pháp luật – ông Phạm Minh T và ông Phạm Minh T’, Ban thanh lý tài sản và các phòng ban liên quan tiến hành thủ tục giải thể Công ty theo quy định pháp luật.

Điều 4: Chủ tịch Hội đồng quản trị, người đại diện theo pháp luật, phòng ban liên quan của Công ty có trách nhiệm thi hành Nghị quyết này.

Điều 5: Nghị quyết này có hiệu lực kể từ ngày ký.”

Xét thấy, những nội dung cụ thể ghi tại Điều 2, Điều 3 của Nghị quyết số 02/2024/NQ-ĐHĐCĐ là không có trong những nội dung mà ĐHĐCĐ đã biểu quyết thông qua được ghi cụ thể trong Tờ trình 04, nên thuộc trường hợp có vi phạm trong việc ra quyết định của ĐHĐCĐ. Vì vậy, có căn cứ để chấp nhận một phần khiếu nại của Công ty DH cho rằng Nghị quyết ĐHĐCĐ số 02/2024/NQ-ĐHCĐCĐ ngày 06/9/2024 của Công ty W thông qua việc giải thể công ty là trái quy định của pháp luật. Tuy nhiên, theo quy định của Điều 151 Luật Doanh nghiệp đối với vi phạm này thì chỉ cần hủy bỏ phần nội dung của Nghị quyết có vi phạm mà không hủy toàn bộ nghị quyết như yêu cầu của Công ty DH, cụ thể hủy bỏ đối với nội dung tại các Điều 2, 3 Nghị quyết số 02/2024/NQ-ĐHĐCĐ.

Xét kháng cáo về cấp sơ thẩm có vi phạm trình tự tố tụng khi thực hiện thủ tục công khai chứng cứ và hòa giải đối với yêu cầu hủy nghị quyết ĐHĐCĐ và đề nghị đưa người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vào tham gia tố tụng.

Việc thực hiện thủ tục công khai chứng cứ và hòa giải đối với yêu cầu giải quyết việc dân sự của cấp sơ thẩm là không đúng theo quy định tại Điều 366 của Bộ luật Tố tụng dân sự quy định về trình tự thủ tục giải quyết yêu cầu việc dân sự, tuy nhiên không làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của các bên đương sự nên kháng cáo của người yêu cầu về nội dung này là có cơ sở, cấp sơ thẩm cần rút kinh nghiệm.

Đối với yêu cầu của Công ty DH đề nghị đưa ông Phạm Minh T và bà Hồ Thị Thùy T’’ vào tham gia tố tụng tại cấp phúc thẩm: Xét thấy việc xem xét kháng cáo của Công ty Decom tại cấp phúc thẩm không làm phát sinh quyền, nghĩa vụ đối với ông T và bà T’’ nên không chấp nhận yêu cầu này của Công ty DH.

Đối với các nội dung còn lại trong phần trình bày kháng cáo của người đại diện theo ủy quyền của Công ty DH và người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người yêu cầu tại phiên họp phúc thẩm là vượt quá phạm vi yêu cầu ban đầu của Công ty Decom Holding được nêu trong đơn yêu cầu và các bản trình bày tại cấp sơ thẩm nên không thuộc phạm vi xem xét của cấp phúc thẩm.

Về án lệ phí sơ thẩm: Giữ nguyên lệ phí của quyết định giải quyết việc dân sự sơ thẩm.

Về lệ phí phúc thẩm: Do sửa quyết định giải quyết việc dân sự sơ thẩm nên người kháng cáo không phải chịu lệ phí phúc thẩm.

Từ những phân tích trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng: Khoản 2 Điều 370, điểm a khoản 3 Điều 375 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Khoản 2 Điều 37 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định vế án phí, lệ phí tòa án;

Chấp nhận một phần kháng cáo của Công ty DH, sửa Quyết định sơ thẩm giải quyết việc dân sự:

1. Chấp nhận một phần yêu cầu của Công ty Cổ phần DH:

Hủy bỏ một phần nội dung Nghị quyết Đại hội đồng cổ đông số 02/2024/NQ-ĐHĐCĐ ngày 06/9/2024 của Công ty cổ phần W, cụ thể hủy bỏ:

“Điều 2: Thành lập Ban thanh lý tài sản: Đại hội đồng cổ đông quyết định thành lập Ban thanh lý tài sản gồm các thành viên: Ông Phạm Minh T– Chủ tịch Hội đồng quản trị – Trưởng Ban; Ông Phạm Minh T’ – Giám đốc – Thành viên; Bà Hồ Thị Thùy T’’ – Kế toán – Thành viên;

Ban thanh lý tài sản có nhiệm vụ thực hiện việc thanh lý toàn bộ tài sản của Công ty (tài sản cố định, công cụ dụng cụ; đầu tư cổ phần tại Công ty cổ phần B, tại Công ty cổ phần Đầu tư Sáng tạo G) và thanh toán các khoản nợ của Công ty theo thứ tự ưu tiên theo quy định pháp luật.

Điều 3: Giao cho Chủ tịch Hội đồng quản trị, người đại diện pháp luật – ông Phạm Minh T và ông Phạm Minh T’, Ban thanh lý tài sản và các phòng ban liên quan tiến hành thủ tục giải thể Công ty theo quy định pháp luật”

2. Không chấp nhận một phần yêu cầu của Công ty Cổ phần DH:

Giữ nguyên một phần nội dung Nghị quyết Đại hội đồng cổ đông số 02/2024/NQ-ĐHĐCĐ ngày 06/9/2024 của Công ty Cổ phần W, cụ thể giữ nguyên:

“Điều 1: Nay quyết định: Thông qua việc tiến hành giải thể Công ty cổ phần W theo quy định pháp luật.

Lý do: hoạt động kinh doanh không hiệu quả.

Điều 4: Chủ tịch Hội đồng quản trị, người đại diện theo pháp luật, phòng ban liên quan của Công ty có trách nhiệm thi hành Nghị quyết này.

Điều 5: Nghị quyết này có hiệu lực kể từ ngày ký.”

3. Về lệ phí sơ thẩm giải quyết việc kinh doanh thương mại: là 300.000 (ba trăm ngàn) đồng Công ty Cổ phần DH chịu nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng lệ phí đã nộp theo biên lai thu số 0020642 ngày 07/10/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận 10 (nay là Phòng thi hành án dân sự khu vực 4), Thành phố Hồ Chí Minh.

4. Về lệ phí phúc thẩm giải quyết việc kinh doanh, thương mại: Công ty DH không phải chịu lệ phí phúc thẩm. Hoàn lại cho Công ty DH số tiền lệ phí phúc thẩm đã nộp là 300.000 (Ba trăm ngàn) đồng theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0075735 ngày 09/5/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận 10 (nay là Phòng thi hành án dân sự khu vực 4), Thành phố Hồ Chí Minh.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Quyết định phúc thẩm giải quyết việc dân sự có hiệu lực pháp luật kể từ ngày ra quyết định./.

Cỡ chữ