vanban.org

Quyết định 34/2025/QĐST-LĐ — Yêu cầu tuyên bố hợp đồng lao động, thỏa ước lao động tập thể vô hiệu

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

146; Điều 149; Điều 361; Điều 366; Điều 367; Điều 370; Điều 371; Điều 372; Điều 401 và Điều 402 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

luật Lao động năm 2012; luật Lao động năm 2019; Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Yêu cầu tuyên bố hợp đồng lao động, thỏa ước lao động tập thể vô hiệu — án lao động — "Bà Phạm Thúy L yêu cầu tuyên bố hợp đồng lao động vô hiệu"
  • Tòa quyết gì? 146; Điều 149; Điều 361; Điều 366; Điều 367; Điều 370; Điều 371; Điều 372; Điều 401 và Điều 402 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
  • Căn cứ chính? Điều 146 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 149 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 15 Bộ luật Lao động
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 16 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Số: 34/2025/QĐST-LĐ
Thành phố Hồ Chí Minh, ngày 15 tháng 8 năm 2025

QUYẾT ĐỊNH

SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC LAO ĐỘNG

V/v yêu cầu tuyên bố hợp đồng lao động vô hiệu

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 16 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Thành phần giải quyết việc lao động gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Bà Kiều Thị Uyên

Thư ký phiên họp: Ông Hoàng Ngọc Linh - Thư ký Tòa án.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 16 - Thành phố Hồ Chí Minh tham

gia phiên họp: Bà Bùi Thị Thủy - Kiểm sát viên.

Ngày 15 tháng 8 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân khu vực 16 - Thành phố Hồ

Chí Minh mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc lao động thụ lý số: 118/2025/TLST-VLĐ ngày 30 tháng 7 năm 2025 về việc “Yêu cầu tuyên bố hợp đồng lao động vô hiệu” theo Quyết định mở phiên họp sơ thẩm giải quyết việc lao động số: 35/2025/QĐST-LĐ ngày 08 tháng 8 năm 2025, gồm những người tham gia tố tụng sau đây:

- Người yêu cầu: Bà Phạm Thúy L, sinh năm: 1988; địa chỉ: 7 phường T, thành

phố Hồ Chí Minh có đơn xin giải quyết vắng mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. Bà Nguyễn Kim L1, sinh năm 1979; địa chỉ: Âp Bình Thạnh 2, xã Hội An, tỉnh

An Giang

2. Công ty TNHH L2; địa chỉ: đường T, khu phố H, phường T, Thành phố Hồ Chí

Minh

3. Bảo hiểm xã hội cơ sở L3 thuộc Bảo hiểm xã hội Thành phố H, địa chỉ: đường

N, khu phố B, phường L, Thành phố Hồ Chí Minh, có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt.

NỘI DUNG VIỆC LAO ĐỘNG:

- Theo đơn yêu cầu giải quyết việc lao động và lời khai trong quá trình giải

quyết bà Phạm Thúy L trình bày:

Từ tháng 06 năm 2008 đến 02 năm 2012 tôi có làm việc tại Công ty TNHH S,

địa chỉ: khu phố H, phường T, Thành phố Hồ Chí Minh và có đóng bảo hiểm xã hội mã số: 7408167997. Sau khi nghỉ việc tôi tiền hành điều chinh thông tin bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế thì bên Bảo hiểm xã hội rà soát và phát hiện hồ sơ bảo hiểm của tôi có một số sổ bảo hiểm đã tham bảo hiểm xã hội từ tháng 03 năm 2007 đến tháng 02/2010 với mã số bảo hiểm là: 9107035456, tại Công ty TNHH L4; địa chỉ: đường T, khu phố H, phường T, Thành phố Hồ Chí Minh.

Lý do tôi có 02 số sổ bảo hiểm vì thời điểm năm 2008 tôi cho dì ruột của tôi

Nguyễn Kim L1, sinh năm 1979 mượn hồ sơ của tôi để giao kết hợp đồng lao động với Công ty TNHH L5; địa chỉ: đường T, khu phố H, phường T, Thành phố Hồ Chí Minh. Lý do tôi cho bà Nguyễn Kim L1 mượn hồ sơ là vì bà L1 bị mất chứng minh nhân dân nên mới mượn và sử dụng thông tin của tôi để giao kết Hợp đồng lao động với Công ty TNHH L5; địa chỉ: đường T, khu phố H, phường T, Thành phố Hồ Chí Minh với mã số bảo hiểm là 9107035456 từ tháng 03 năm 2007 đến tháng 02/2010.

Do chúng tôi không hiểu biết về pháp luật nên mới để lại hậu quả pháp lý như

ngày hôm nay.

Vì vậy, nay tôi có yêu cầu Tòa án nhân dân Khu vực 16 - Thành phố Hồ Chí

Minh giải quyết: Tuyên Hợp đồng lao động giữa bà Phạm Thúy L (do bà Nguyễn Kim L1 ký kết) với Công ty TNHH L4; địa chỉ: đường T, khu phố H, phường T, Thành phố Hồ Chí Minh với mã số bảo hiểm là 9107035456 là vô hiệu.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là bà Nguyễn Kim L1 trình bày:

Bà Nguyễn Kim L1 được tòa án thông báo nội dung khởi kiện và tống đạt Quyết

định mở phiên họp, nhưng không có ý kiến đối với yêu cầu của bà Phạm Thúy L, không cung cấp bất cứ tài liệu, chứng cứ liên quan đến việc giải quyết việc lao động.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là Công ty TNHH L4 trình bày:

Công ty TNHH L4 được tòa án thông báo nội dung khởi kiện và tống đạt Quyết

định mở phiên họp, nhưng không có ý kiến đối với yêu cầu của yêu cầu của bà Phạm Thúy L, không cung cấp bất cứ tài liệu, chứng cứ liên quan đến việc giải quyết việc lao động.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là Bảo hiểm xã hội cơ sở Lái Thiêu (viết

tắt là BHXH) trình bày:

Bảo hiểm xã hội (BHXH) cơ sở Lái Thiêu nhận được thông báo số 118/TB-

TLVA ngày 01/08/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 16 - Thành phố Hồ Chí Minh về việc tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và cung cấp thông tin tham gia BHXH của bà Phạm Thúy L trong vụ án "Tranh chấp về hợp đồng lao động vô hiệu" giữa bà Phạm Thúy L với C. BHXH cơ sở Lái Thiêu có ý kiến như sau:

Qua kiểm tra dữ liệu lưu trữ hiện có trên hệ thống của ngành BHXH, đổi với

thông tin họ tên Bà Phạm Thúy L, sinh năm 30/08/1988, số chứng minh nhân dân xxxxxxxxx, số căn cước công dân xxxxxxxxxxxx có quá trình tham gia BHXH, bảo hiểm thất nghiệp (BHTN), ở các mã số BHXH như sau:

Qua kiểm tra đối chiếu dữ liệu tham gia BHXH, bảo hiểm y tế (BHYT), bảo

hiểm thất nghiệp (BHTN) của Công ty TNHH L4 cho người lao động thì Công ty TNHH L4 có tham gia BHXH, BHYT, BHTN cho bà Phạm Thúy L với mã số BHXH 9107035456 từ tháng 03/2007 đến tháng 02/2010 tại Công ty TNHH L4.

Ngoài ra, bà Phạm Thúy L còn có mã số 7412219350 có quá trình tham gia từ

tháng 07/2012 đến tháng 02/2024 tại Công ty TNHH S.

- Tại phiên họp, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An phát biểu ý

kiến về việc giải quyết việc lao động và đề nghị:

Quá trình tố tụng, Thẩm phán, Thư ký phiên họp và đương sự đã chấp hành theo

đúng quy định của pháp luật. Về nội dung: Xét thấy, yêu cầu của bà Phạm Thúy L là có căn cứ, đề nghị Tòa án xem xét chấp nhận.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về thủ tục tố tụng: Người yêu cầu bà Phạm Thúy L; người đại diện theo ủy

quyền của Bảo hiểm xã hội cơ sở L3; người đại diện hợp pháp của Công ty TNHH L4 có yêu cầu giải quyết vắng mặt. Căn cứ Điều 367 Bộ luật Tố tụng Dân sự, Tòa án tiến hành phiên họp vắng mặt các đương sự.

Xem xét yêu cầu của đương sự:

Trong thời gian từ tháng 03/2007 đến tháng 02/2010, người lao động tên

Phạm Thúy L giao kết hợp đồng lao động với Công ty TNHH L4 và được Công ty TNHH L4 tham gia bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp với mã số bảo hiểm xã hội là 9107035456. Tuy nhiên, bà L và bà L1 đều thừa nhận người ký hợp đồng lao động với Công ty TNHH L4 và thực tế làm việc tại công ty T khoảng thời gian từ tháng 03/2007 đến tháng 02/2010 là bà Nguyễn Kim L1 (do bà L cho bà L1 mượn chứng minh nhân dân).

Xét thấy, lời khai của bà L, bà L1 và Công ty TNHH L4 phù hợp với xác

nhận của Bảo hiểm xã hội cơ sở Lái Thiêu. Bởi lẽ, trong khoảng thời gian từ tháng 06/2008 đến tháng 02/2012, bà L đang làm việc tại Công ty TNHH S, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp với mã số 7408167997. Như vậy, chủ thể ký kết hợp đồng lao động với Công ty TNHH L4 trong khoảng thời gian tháng 03/2007 đến tháng 02/2010 là bà Nguyễn Kim L1, không phải là bà Phạm Thúy L.

Theo khoản 1 Điều 17 của Bộ luật Lao động năm 2012 và khoản 1 Điều 15 của Bộ

luật Lao động năm 2019, quy định về nguyên tắc giao kết hợp đồng lao động: “Tự nguyện, bình đẳng, thiện chí, hợp tác và trung thực”. Theo quy định về nghĩa vụ cung cấp thông tin khi giao kết hợp đồng lao động tại khoản 2 Điều 19 của Bộ luật Lao động năm 2012, thì: “Người lao động phải cung cấp thông tin cho người sử dụng lao động về họ tên, tuổi, giới tính, nơi cư trú, trình độ học vấn, trình độ kỹ năng nghề, tình trạng sức khoẻ và vấn đề khác liên quan trực tiếp đến việc giao kết hợp đồng lao động mà người sử dụng lao động yêu cầu” và khoản 2 Điều 16 của Bộ luật Lao động năm 2019, thì: “Người lao động phải cung cấp thông tin trung thực cho người sử dụng lao động về họ tên, ngày tháng năm sinh, giới tính, nơi cư trú, trình độ học vấn, trình độ kỹ năng nghề, xác nhận tình trạng sức khỏe và vấn đề khác liên quan trực tiếp đến việc giao kết hợp đồng lao động mà người sử dụng lao động yêu cầu”. Theo quy định về hợp đồng lao động vô hiệu tại điểm b khoản 1 Điều 50 của Bộ luật Lao động năm 2012, thì: “Người ký kết hợp đồng lao động không đúng thẩm quyền” và điểm b khoản 1 Điều 49 của Bộ luật Lao động năm 2019, thì: “Người giao kết hợp đồng lao động không đúng thẩm quyền hoặc vi phạm nguyên tắc giao kết hợp đồng lao động quy định tại khoản 1 Điều 15 của Bộ luật này”. Theo hướng dẫn tại Công văn số 1767/LĐTBXH-BHXH ngày 31/5/2022 về việc người lao động mượn hồ sơ của người khác để giao kết hợp đồng lao động của Bộ L6 thì: “…Trường hợp người lao động mượn hồ sơ của người khác để giao kết hợp đồng lao động là hành vi vi phạm nguyên tắc “trung thực” theo quy định tại khoản 1 Điều 15 của Bộ luật Lao động và vi phạm nghĩa vụ cung cấp thông tin khi giao kết hợp đồng lao động theo quy định tại khoản 2 Điều 16 của Bộ luật Lao động. Căn cứ quy định tại điểm b khoản 1 Điều 49 của Bộ luật Lao động đây là trường hợp hợp đồng lao động vô hiệu toàn bộ…”. Do đó, có cơ sở xác định việc bà L1 mượn hồ sơ cá nhân của bà L để giao kết hợp đồng lao động và tham gia bảo hiểm xã hội theo sổ BHXH số 9107035456 từ tháng 03 năm 2007 đến tháng 02/2010 tại Công ty TNHH L4 là hành vi vi phạm nguyên tắc “trung thực” và vi phạm nghĩa vụ cung cấp thông tin khi giao kết hợp đồng lao động, đây là trường hợp hợp đồng lao động vô hiệu toàn bộ.

Từ những nhận định trên, có căn cứ chấp nhận yêu cầu của bà Phạm Thúy

L về việc yêu cầu tuyên bố hợp đồng lao động giữa bà Phạm Thúy L với Công ty TNHH L7 sổ bảo hiểm xã hội số 9107035456 bị vô hiệu.

Tại khoản 5 Điều 402 của Bộ luật Tố tụng Dân sự quy định về xem xét yêu

cầu tuyên bố hợp đồng lao động vô hiệu, thỏa ước lao động tập thể vô hiệu:“... Tòa án phải giải quyết hậu quả pháp lý của việc tuyên bố hợp đồng lao động vô hiệu", chấp nhận yêu cầu của bà L và ý kiến của bà về việc xác định người lao động tại Công ty TNHH L4 trong giai đoạn từ tháng 03 năm 2007 đến tháng 02/2010 là bà Nguyễn Kim L1, không phải là bà Phạm Thúy L. Bà L và bà L1 có quyền liên hệ cơ quan bảo hiểm xã hội có thẩm quyền để cải chính thông tin tại Sổ bảo hiểm xã hội mã số 9107035456.

kiến của đại diện Viện kiểm sát về nội dung việc lao động, các thủ tục tố

tụng, quá trình tiến hành tố tụng c ng như diễn biến tại phiên họp là phù hợp với quy định của pháp luật.

Về lệ phí: Bà Phạm Thúy L phải chịu 300.000đ (ba trăm nghìn đồng.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ khoản 1 Điều 33; điểm d khoản 2 Điều 35; điểm v khoản 2 Điều 39;Điều

146; Điều 149; Điều 361; Điều 366; Điều 367; Điều 370; Điều 371; Điều 372; Điều 401 và Điều 402 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

- Căn cứ khoản 1 Điều 17; khoản 2 Điều 19; Điều 50; Điều 51 và Điều 52 của Bộ

luật Lao động năm 2012;

- Căn cứ khoản 1 Điều 15; khoản 2 Điều 16; Điều 49; Điều 50 và Điều 51 của Bộ

luật Lao động năm 2019;

- Căn cứ Điều 37 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy

ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu giải quyết việc lao động của bà Phạm Thúy L.

- Tuyên bố hợp đồng lao động giữa bà Phạm Thúy L với Công ty TNHH L4

(theo sổ bảo hiểm xã hội số 9107035456) bị vô hiệu.

- Xác định người lao động theo sổ bảo hiểm xã hội số 9107035456 không phải là

bà Phạm Thúy L, sinh năm 1988, giới tính: Nữ, quốc tịch: Việt Nam, căn cước công dân số: xxxxxxxxxxxx. Bà Phạm Thúy L và bà Nguyễn Kim L1 được quyền liên hệ với C1 có thẩm quyền để tiến hành thủ tục cải chính thông tin tại sổ bảo hiểm xã hội mã số 9107035456.

2. Lệ phí sơ thẩm giải quyết việc lao động: Bà Phạm Thúy L phải chịu 300.000đ

(ba trăm nghìn đồng), được khấu trừ tiền tạm ứng đã nộp theo biên lai thu số 0003985 ngày 17/7/2025 của Thi hành án Dân sự thành phố Hồ Chí Minh.

3. Người yêu cầu, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo

trong thời hạn 10 (mười) ngày, kể từ ngày nhận được quyết định hoặc kể từ ngày quyết định được thông báo, niêm yết. Viện kiểm sát cùng cấp có quyền kháng nghị quyết định giải quyết trong thời hạn 10 (mười) ngày, Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp có quyền kháng nghị trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày Tòa án ra quyết định.

Trường hợp Quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án

dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ