vanban.org

Quyết định 34/2020/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về ngoại tình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị Đồng Thị L và anh Phạm Văn Đ.

Về nuôi con chung: 1. Giao con chung Phạm Yến N cho chị Đồng Thị L trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi cháu Phạm Yến N đủ 18 tuổi, có khả năng lao động hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về ngoại tình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn, tranh chấp nuôi con chị L và anh Đ"
  • Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị Đồng Thị L và anh Phạm Văn Đ.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN K
THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 34/2020/HNGĐ-ST
Ngày 26- 6-2020
V/v ly hôn và nuôi con khi ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN K, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Khúc Trọng Quang

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Bùi Đình Ngát

Bà Vũ Thị Quỳ

- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Quý Linh – Thư ký Toà án nhân dân huyện K, thành phố Hải Phòng.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện K, thành phố Hải Phòng tham gia phiên toà: Ông Phạm Quốc Việt - Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 6 năm 2019 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện K thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 159/2020/TLST-HNGĐ ngày 22 tháng 4 năm 2020 về việc “Ly hôn và nuôi con khi ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 35/2020/QĐST- HNGĐ ngày 01 tháng 6 năm 2020 và Quyết định hoãn phiên tòa số 23/2020/QĐST-HNGĐ ngày 16 tháng 6 năm 2020 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Đồng Thị L, sinh năm 1990; đăng ký nhân khẩu thường trú: Thôn 3, xã T, huyện K, thành phố Hải Phòng, có mặt.

- Bị đơn: Anh Phạm Văn Đ, sinh năm 1987; đăng ký nhân khẩu thường trú: Thôn 3, xã T, huyện K, thành phố Hải Phòng, vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn xin ly hôn đề ngày 06 tháng 3 năm 2020 và các lời khai tại Tòa án nhân dân huyện K, nguyên đơn là chị Đồng Thị L trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Chị Đồng Thị L và anh Phạm Văn Đ kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn ngày 27 tháng 10 năm 2008 tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện K, thành phố Hải Phòng. Sau khi kết hôn anh, chị cùng chung sống tại thôn 3, xã T, huyện K, thành phố Hải Phòng. Chị L và anh Đ chung sống hòa thuận được khoảng 8 năm thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do tính tình vợ chồng không hòa hợp, anh Đ chơi bời và không quan tâm đến cuộc sống gia đình. Do mâu thuẫn nên hai bên thường xuyên xảy ra cãi vã, đánh chửi nhau, mặc dù đã được gia đình và địa phương hòa giải nhưng không cải thiện được, chị L và anh Đ đã sống ly thân từ đầu năm 2019 cho đến nay. Nay chị L nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn khả năng đoàn tụ, chị L đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh Đ.

Về con chung: Chị L khai vợ chồng có 01 con chung là Phạm Yến N sinh ngày 28 tháng 8 năm 2009, hiện cháu N đang do chị L nuôi dưỡng. Trường hợp ly hôn chị L đề nghị được nuôi cháu N vì cháu N có nguyện vọng được ở với chị, mặt khác chị hiện kinh doanh tự do, có thu nhập ổn định có thể chăm lo cho cháu. Anh Đ không có nghề nghiệp, không có thu nhập ổn định nên không có điều kiện để chăm lo cho con. Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung chị L để tự thỏa thuận với anh Đ do vậy không đề nghị Tòa án giải quyết.

Về tài sản chung: Chị L khai vợ chồng tự thỏa thuận với nhau, không đề nghị Tòa án giải quyết.

Bị đơn là anh Phạm Văn Đ đã được Tòa án tống đạt Thông báo thụ lý vụ án và các văn bản tố tụng khác nhưng đến ngày Tòa án mở phiên tòa xét xử lần thứ hai anh Đ vẫn không có mặt tại Tòa án để có ý kiến về yêu cầu xin ly hôn của chị Đồng Thị L.

Tại phiên tòa Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của nguyên đơn trong quá trình giải quyết vụ án đã tuân thủ đúng quy định của pháp luật; bị đơn chưa chấp hành đúng quy định của pháp luật. Về việc giải quyết vụ án: Căn cứ tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ thể hiện quan hệ hôn nhân giữa chị Đồng Thị L và anh Phạm Văn Đ đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng dụng khoản 1 Điều 28; khoản 1 Điều 35; khoản 1 Điều 39; khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228; khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 51; Điều 56; Điều 81; Điều 82; Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, chấp nhận yêu cầu của chị Đồng Thị L được ly hôn anh Đ. Về con chung, giao con là Phạm Yến N cho chị L nuôi dưỡng. Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung do chị L và anh Đ tự thỏa thuận giải quyết nên đề nghị hội đồng xét xử không xem xét; Về tài sản chung do chị L đề nghị để tự thỏa thuận giải quyết, nên đề nghị hội đồng xét xử không xem xét giải quyết. Nguyên đơn phải chịu án phí theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về thủ tục tố tụng:: Bị đơn là anh Phạm Văn Đ đã được Toà án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng để anh Đ có mặt tại Toà án trình bày ý kiến của mình về việc chị Đồng Thị L có đơn xin ly hôn nhưng anh Đ vắng mặt tại phiên tòa hai lần không có lý do. Căn cứ khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt đối với bị đơn là anh Phạm Văn Đ.

Về quan hệ hôn nhân: Quan hệ hôn nhân giữa chị Đồng Thị L và anh Phạm Văn Đ là hợp pháp. Quá trình chung sống vợ chồng hòa thuận hạnh phúc đến đầu năm 2016 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do tính tình vợ chồng không hòa hợp, anh Đ chơi bời không chăm lo làm ăn kinh tế và không quan tâm tới cuộc sống gia đình dẫn đến vợ chồng thường xuyên cãi mắng xúc phạm nhau. Kết quả xác minh tại chính quyền địa phương và gia đình thể hiện mâu thuẫn vợ chồng giữa chị L và anh Đ phù hợp với lời khai của chị L. Chị L đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Đ, anh Đ không có mặt tại Tòa theo giấy triệu tập của Tòa án và vắng mặt tại các buổi hòa giải cũng như tại phiên tòa xét xử. Như vậy thể hiện tình trạng hôn nhân giữa chị L và anh Đ đã trầm trọng, khả năng vợ chồng đoàn tụ không còn, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó hội đồng xét xử căn cứ Điều 51, Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình chấp nhận yêu cầu của chị L xin ly hôn với anh Đ.

Về con chung: Chị L và anh Đ có 01 con chung là Phạm Yến N sinh ngày 28 tháng 8 năm 2009, trường hợp ly hôn chị L đề nghị được trực tiếp nuôi dưỡng con chung. Việc giao con chưa thành niên cho ai nuôi cần xem xét để đảm bảo quyền lợi về mọi mặt của con chưa thành niên cũng như đảm bảo quyền được chăm sóc nuôi dưỡng con của cả cha, mẹ. Xét hiện nay, chị L đang trực tiếp nuôi dưỡng cháu N và cháu N cũng có lời khai thể hiện có nguyện vọng được ở với mẹ. Chị L khai chị hiện đang buôn bán tự do, có thu nhập ổn định và thời gian để có thể chăm lo cho con còn anh Đ không có công việc, không có thu nhập ổn định nên không có khả năng chăm lo tốt cho con. Anh Đ mặc dù đã được Tòa án thông báo về việc giao nộp các tài liệu, chứng cứ để chứng minh về điều kiện chăm sóc và nuôi dưỡng con chung như nơi ở, nghề nghiệp, thu nhập hàng tháng....nhưng anh Đ không cung cấp cho Tòa án. Như vậy xét về mọi mặt, chị L có điều kiện chăm sóc con chung đảm bảo hơn so với anh Đ, cần chấp nhận đề nghị của chị L, giao Cháu N cho chị L trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi con chung đủ 18 tuổi, có khả năng lao động hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật.

Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung do chị L đề nghị để tự thỏa thuận với anh Đ nên hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Về tài sản chung: Chị L khai vợ chồng tự thỏa thuận về tài sản chung, không đề nghị Tòa án giải quyết, anh Đ vắng mặt và chưa có lời khai về tài sản chung vợ chồng, do vậy Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Về án phí: Nguyên đơn phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và Gia đình; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, xử:

1. Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị Đồng Thị L và anh Phạm Văn Đ.

2. Về nuôi con chung:

2.1. Giao con chung Phạm Yến N cho chị Đồng Thị L trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi cháu Phạm Yến N đủ 18 tuổi, có khả năng lao động hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật.

2.2. Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung: Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Sau khi ly hôn anh Phạm Văn Đ có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

3. Về tài sản chung: Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

4. Về án phí: Chị Đồng Thị L phải nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng tạm ứng án phí chị L đã nộp theo biên lai số 0008869 ngày 22/4/2020 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện K, thành phố Hải Phòng. Chị L đã nộp đủ tiền án phí dân sự sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo: Chị Đồng Thị L có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; anh Phạm Văn Đ vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn mười lăm ngày kể từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ.

Cỡ chữ