vanban.org

Quyết định 34/2018/QĐ-TA

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Không áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Lê V.Y.

Người bị đề nghị có quyền khiếu nại, Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội Thành phố Vũng Tàu có quyền kiến nghị, Viện kiểm sát nhân dân Thành phốVũng Tàu có quyền kháng nghị, trong thời hạn 03 (ba) ngày làm việc kể từ ngày công bố Quyết định. Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn khiế… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? "Lê V.Y"
  • Tòa quyết gì? Không áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Lê V.Y.
  • Căn cứ chính? Điều 10 Nghị định số 221/2013/NĐ-CP Quy định chế độ áp dụng biện phá…; Điều 11 Nghị định số 221/2013/NĐ-CP Quy định chế độ áp dụng biện phá…; Điều 12 Nghị định số 221/2013/NĐ-CP Quy định chế độ áp dụng biện phá…
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TP.VŨNG TÀU CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TỈNH BÀ RỊA VŨNG TÀU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 34/2018/QĐ-TAVũng Tàu, ngày 27 tháng 6 năm 2018

QUYẾT ĐỊNH

Không áp dụng biện pháp xử lý hành chính

đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VŨNG TÀU

Với thành phần tiến hành phiên họp, gồm có:

1. Thẩm phán

: Bà Đinh Thị Châm – Chủ tọa phiên họp

2. Thư ký phiên họp: Bà Đinh Thị Hồng Hà – Thư ký Tòa án.

Ngày 27 tháng 6 năm 2018,tại Cơ sở Tư vấn và Điều trị nghiện ma túy tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu (địa chỉ: ấp 6, xã Tóc Tiên, huyện Tân Thành, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu), Tòa án nhân dân TP.Vũng Tàu tiến hành mở phiên họp công khai hồ sơ thụ lý số 237/2018/TB-TLHS ngày 22 tháng 6 năm 2018 về việc xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, theo Quyết định mở phiên họp số 34/2018/QĐ-TA ngày 27 tháng 6 năm 2018, đối với:

Họ và tên người bị đề nghị: Lê V.Y, tên gọi khác: không, sinh năm 1982. Giới tính: Nam. Dân tộc: Kinh.Tôn giáo: Không . Trình độ học vấn: 6/12. Nguyên quán: H. HKTT: N, đường K, thành phố V, tỉnh B. Chỗ ở: N, đường K, thành phố V, tỉnh B. Nhân thân: không. Con ông Lê Văn T và bà Nguyễn Thị H.

Đối tượng Lê V.Y (Có mặt).

Có sự tham gia của:

1. Đại diện cơ quan đề nghị: Ông Ngũ Thế Huy – Đại diện phòng Lao động-Thương binh và Xã hội TP.Vũng Tàu;

2. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân TP.Vũng Tàu: Bà Nguyễn Thu Hương – Kiểm sát viên.

NHẬN THẤY:

Ngày 09 tháng 5 năm 2018, Công an Phường Thắng Nhì,TP.Vũng Tàu tiến hành xét nghiệm nước tiểu của đối tượng Lê V.Y, cho kết quả dương tính với chất ma túy nên đã lập biên bản vi phạm hành chính đối với đối tượng Y. Ngày 09 tháng 5 năm 2018, trạm y tế Phường Thắng Nhì có văn bản xác định Lê V.Y nghiện ma túy. Do đó Công an Phường Thắng Nhì,TP.Vũng Tàu lập hồ sơ đề nghị Chủ tịch UBND Phường Thắng Nhì, TP.Vũng Tàu ra quyết định giao cho Cơ sơ Tư vấn và Điều trị nghiện ma túy tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu tiếp nhận quản lý đối tượng Y đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc trong thời gian cơ quan chức năng làm thủ tục xem xét, quyết định áp dụng biện pháp hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.

Ngày 14/5/2018 Cơ sở tư vấn và điều trị nghị ma túy có công văn số 384/CSTVĐTNMT v/v Thông báo kết quả xác định tình trạng nghiện ma túy xác nhận: Có nghiện ma túy tổng hợp chất dạng Amphetamine (ATS).

Ngày 12/6/2018, Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội TP.Vũng Tàu có văn bản số230/LĐ-TBXH về việc xem xét, quyết định áp dụng biện pháp đưa vào Cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với ông Lê V.Y.

Tại phiên họp:

1/ Ý kiến của đại diện Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội TP.Vũng Tàu: Ngày 09/5/2018, Lê V.Y bị Công an Phường Thắng Nhì, TP.Vũng Tàu lập biên bản vi phạm hành chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy. Tại bản tường trình, Biên bản lời khai, Y đều thừa nhận, bản thân mới sử dụng ma túy từ tháng 04/2018. Y là đối tượng đã trên 18 tuổi, có hộ khẩu thường trú tại N, đường K, thành phố V, tỉnh B nhưng thường xuyên bỏ đi lang thang, không cư trú tại địa phương. Do đó, đề nghị Tòa án xem xét áp dụng biện pháp đưa đi cai nghiện bắt buộc đối với đối tượng Y với thời gian là 24 tháng.

2/ Ý kiến của Lê V.Y: Đối tượng Y thừa nhận sử dụng ma túy từ tháng 4 năm 2018, bằng hình thức hút ma túy tổng hợp. Tuy nhiên, Y là đối tượng có nơi cư trú ổn định tại địa chỉ N, đường K, thành phố V, tỉnh B. Do đó, đối tượng Y đề nghị Tòa án xem xét không áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Y.

3/ Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên họp: Từ khi thụ lý hồ sơ đến khi mở phiên họp, Tòa án đã tuân thủ đúng trình tự thủ tục theo quy định tại Pháp lệnh 09/2014/UBTVQH 13 ngày 20/01/2014.

Về nội dung: Đề nghị xem xét không áp dụng biện pháp đưa đi cai nghiện bắt buộc đối với đối tượng Lê V.Y theo quy định của pháp luật.

XÉT THẤY:

1/ Về thời hiệu và thẩm quyền:

Đối tượng Lê V.Y có hành vi sử dụng ma túy,bị Công an Phường Thắng Nhì,TP.Vũng Tàu phát hiện và tiến hành lập biên bản vi phạm hành chính ngày 09/5/2018. Ngày 12/6/2018, Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội TP.Vũng Tàu có văn bản đề nghị Tòa án đưa đối tượng Y vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, trong thời hiệu, hồ sơ thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân thành phố Vũng Tàu theo Điều 105 Luật xử lý vi phạm hành chính, Điều 4 Nghị định 221/2013/NĐ – CP ngày 30/12/2013.

2/ Về trình tự thủ tục lập hồ sơ: Căn cứ vào các Điều 8, 9, 10, 11, 12, 13, 14 Nghị định 221/2013/NĐ – CP ngày 30/12/2013 thì việc các cơ quan hữu quan tiến hành thủ tục lập hồ sơ đưa đối tượng Lê V.Y đi cai nghiện bắt buộc đã thực hiện đầy đủ và đúng trình tự quy định.

3/ Về đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc của Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội TP.Vũng Tàu đối với Lê V.Y:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ và lời khai của đối tượng được thẩm tra tại phiên họp, căn cứ vào ý kiến của đại diện Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát TP.Vũng Tàu xét thấy tại Đơn bảo lãnh của bà Danh Thị Đ (là vợ của đối tượng Y) ngày 31/5/2018 có xác nhận của địa phương về việc Y thường xuyên sinh sống tại địa N, đường K, thành phố V, tỉnh B. Do đó, căn cứ theo Điều 12 Luật cư trú năm 2013 thì Y là đối tượng có nơi cư trú rõ ràng, không thuộc trường hợp đối tượng phải áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo Điều 3 Nghị định 221/2013/NĐ – CP ngày 30/12/2013 nên đề nghị của Phòng Lao động – Thương binh – Xã hội TP.Vũng Tàu đưa Y đi cai nghiện bắt buộc là không có cơ sở để chấp nhận.

Căn cứ Điều 12 Luật cư trú;

Căn cứ các Điều 96 Luật xử lý vi phạm hành chính.

Căn cứ các Điều 20, 22, 23, 24, 30, 31, 32 Pháp lệnh 09/2014/UTVQH 13 ngày 20/01/2014 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

Căn cứ Điều 4 Nghị định 221/2013/NĐ – CP ngày 30/12/2013 quy định chế độ áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Không áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Lê V.Y.

2. Người bị đề nghị có quyền khiếu nại, Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội Thành phố Vũng Tàu có quyền kiến nghị, Viện kiểm sát nhân dân Thành phốVũng Tàu có quyền kháng nghị, trong thời hạn 03 (ba) ngày làm việc kể từ ngày công bố Quyết định.

3. Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị mà không có khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị.

Cỡ chữ