vanban.org

Quyết định 330/2018/QĐST-HNGĐ — Yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn...

TAND Quận 1, TP. Hồ Chí Minh Tuyên án 22/06/2018 Hôn nhân và gia đình Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Công nhận sự thuận tình ly hôn giữa: Bà Nguyễn Thị Minh H và ông Nguyễn Cảnh T.

Kể từ ngày quyết định có hiệu lực pháp luật, Giấy chứng nhận kết hôn số 17, quyển số 01/2012 do Ủy ban nhân dân Phường 3, thành phố Vũng Tàu, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu cấp ngày 20/3/2012 không còn giá trị pháp lý. Công nhận sự thỏa thuận của các đương sự cụ thể như sau: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn... — án hôn nhân và gia đình — "Nguyễn Thị Minh H - Nguyễn Cảnh T"
  • Tòa quyết gì? Công nhận sự thuận tình ly hôn giữa: Bà Nguyễn Thị Minh H và ông Nguyễn Cảnh T.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 212 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 1
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 330/2018/QĐST-HNGĐQuận 1, ngày 22 tháng 6 năm 2018

QUYẾT ĐỊNH

CÔNG NHẬN THUẬN TÌNH LY HÔN VÀ SỰ THỎA THUẬN

CỦA CÁC ĐƯƠNG SỰ

Căn cứ vào hồ sơ vụ án dân sự thụ lý số 154/2018/TLST-HNGĐ ngày 10 tháng 4 năm 2018 về việc “Ly hôn”, giữa:

Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Minh H, sinh năm 1988

Địa chỉ: Số 403 đường C, phường K, Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh.

Bị đơn: Ông Nguyễn Cảnh T, sinh năm 1983

Địa chỉ: Số 403 đường C, phường K, Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh

Căn cứ vào Khoản 4, Điều 147; Điều 212 và Điều 213 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

Căn cứ vào các Điều 56; 57; 81; 82; 83; 84 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;

Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án;

Căn cứ vào biên bản ghi nhận sự tự nguyện ly hôn và hòa giải thành ngày 14 tháng 6 năm 2018 về việc các đương sự đã thật sự tự nguyện ly hôn và thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết toàn bộ vụ án hôn nhân và gia đình.

XÉT THẤY:

Việc thuận tình ly hôn và thỏa thuận của các đương sự được ghi trong biên bản ghi nhận sự tự nguyện ly hôn và hòa giải thành ngày 14 tháng 6 năm 2018 là hoàn toàn tự nguyện và không phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội.

Đã hết thời hạn bảy ngày, kể từ ngày lập biên bản ghi nhận sự tự nguyện ly hôn và hòa giải thành, không có đương sự nào thay đổi ý kiến về sự thỏa thuận đó.

QUYẾT ĐỊNH:

1. Công nhận sự thuận tình ly hôn giữa: Bà Nguyễn Thị Minh H và ông Nguyễn Cảnh T.

Kể từ ngày quyết định có hiệu lực pháp luật, Giấy chứng nhận kết hôn số 17, quyển số 01/2012 do Ủy ban nhân dân Phường 3, thành phố Vũng Tàu, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu cấp ngày 20/3/2012 không còn giá trị pháp lý.

2. Công nhận sự thỏa thuận của các đương sự cụ thể như sau:

- Về con chung: Giao con chung tên Nguyễn Hà Minh T (nữ) sinh ngày 14/12/2012 cho bà Nguyễn Thị Minh H là người trực tiếp nuôi dưỡng. Ghi nhận sự tự nguyện của bà Nguyễn Thị Minh H không yêu cầu ông Nguyễn Cảnh T cấp dưỡng nuôi con.

Ông Nguyễn Cảnh T có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

Vì quyền lợi của con, theo đơn yêu cầu của một hoặc cả hai bên, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi dưỡng hoặc việc cấp dưỡng nuôi con.

Thi hành tại cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền.

- Về tài sản chung và nợ chung: Bà Nguyễn Thị Minh H và ông Nguyễn Cảnh T xác định không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về án phí: Bà Nguyễn Thị Minh H tự nguyện chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm là 150.000 (một trăm năm mươi nghìn) đồng nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí mà bà Hiền đã nộp là 300.000 (ba trăm nghìn) đồng theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí số AA/2017/0022862 ngày 10/4/2018 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh. Bà Hiền được trả lại số tiền 150.000 (một trăm năm mươi nghìn) đồng.

3. Quyết định này có hiệu lực pháp luật ngay sau khi được ban hành và không bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm./.

Cỡ chữ