vanban.org

Quyết định 33/2024/QĐST-LĐ — Yêu cầu tuyên bố hợp đồng lao động, thỏa ước lao động tập thể vô hiệu

TAND TX. Tân Uyên, tỉnh Bình Dương Tuyên án 24/07/2024 Lao động Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận toàn bộ yêu cầu giải quyết việc lao động của bà Lâm Thị N.

Tuyên bố hợp đồng lao động giữa bà Lâm Thị N, sinh năm 1985; địa chỉ thường trú: Ấp Phước Quới, xã Phú Tân, huyện Châu Thành, tỉnh Sóc Trăng với Công ty TNHH Quốc tế Return, thời gian từ tháng 08/2009 đến tháng 5/2010 bị vô hiệu. Các bên có quyền và nghĩa vụ liên hệ cơ quan có thẩm quyền để thực hiệ… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Yêu cầu tuyên bố hợp đồng lao động, thỏa ước lao động tập thể vô hiệu — án lao động — "Quyết định giải quyết việc lao động Lâm Ngọc T"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận toàn bộ yêu cầu giải quyết việc lao động của bà Lâm Thị N.
  • Căn cứ chính? Điều 149 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 15 Bộ luật Lao động; Điều 16 Bộ luật Lao động
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ TÂN UYÊN
TỈNH BÌNH DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 33/2024/QĐST-LĐTân Uyên, ngày 24 tháng 7 năm 2024

QUYẾT ĐỊNH

SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC LAO ĐỘNG

V/v yêu cầu tuyên bố hợp đồng lao động vô hiệu

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TÂN UYÊN, TỈNH BÌNH DƯƠNG

Thành phần giải quyết việc lao động gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Bà Nguyễn Thị Kim Lài.

Thư ký phiên họp: Bà Hà Thị Thùy Trang - Thư ký Toà án.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tân Uyên, tỉnh Bình Dương tham gia phiên họp: Ông Võ Anh Duy - Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân thành phố Tân Uyên mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc lao động thụ lý số: 36/2024/TLST-VLĐ ngày 05 tháng 6 năm 2024 về việc “Yêu cầu tuyên bố hợp đồng lao động vô hiệu” theo Quyết định mở phiên họp sơ thẩm giải quyết việc lao động số: 36/2024/QĐST-LĐ ngày 15 tháng 7 năm 2024, gồm những người tham gia tố tụng sau đây:

- Người yêu cầu giải quyết việc lao động: Bà Lâm Thị N, sinh năm 1985; địa chỉ thường trú: Ấp P, xã P, huyện Châu Thành, tỉnh Sóc Trăng; là người yêu cầu. địa chỉ liên hệ: Nhà trọ Nguyễn Thị Lệ, tổ 4, khu phố B, phương K, thành phố Tân Uyên, tỉnh Bình Dương. Có yêu cầu giải quyết vắng mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. Bà Lâm Thị H, sinh năm 1989; địa chỉ thường trú: Ấp P, xã P, huyện C, tỉnh Sóc Trăng. Có yêu cầu giải quyết vắng mặt.

2. Công ty TNHH Quốc tế G; địa chỉ: Tổ 4, khu phố B, phường K, thành phố Tân Uyên, tỉnh Bình Dương; người đại diện theo pháp luật: Ông Tsai Pin Lieh – chức vụ: Chủ tịch Hội đồng thành viên kiêm Tổng giám đốc. Có yêu cầu giải quyết vắng mặt.

3. Bảo hiểm Xã hội thành phố T, tỉnh Bình Dương; địa chỉ: Đường ĐT 746, khu phố 5, phường Uyên Hưng, thành phố Tân Uyên, tỉnh Bình Dương. Có yêu cầu giải quyết vắng mặt.

NỘI DUNG VIỆC LAO ĐỘNG:

- Theo đơn yêu cầu giải quyết việc lao động và lời khai trong quá trình giải quyết /bà Lâm Thị N trình bày: Từ khoảng tháng 07/2007 đến tháng 03/2010 bà Lâm Thị N làm việc tại Công ty CP CBTS Phương Nam. Sau đó bà N làm việc tại Công ty TNHH Quốc tế Return G cho đến nay. Nay bà Lâm Thị N tiến hành điều chỉnh thông tin bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế thì cơ quan Bảo hiểm xã hội rà soát và phát hiện hồ sơ bảo hiểm của bà bị trùng. Cụ thể, trong khoảng thời gian từ tháng 01/2007 đến tháng 02/2010 khi bà Lâm Thị N đang làm việc tại Công ty CP CBTS Phương Nam và có tham gia bảo hiểm xã hội với mã BHXH số: 9408003940, nhưng trong khoảng thời gian từ tháng 08/2009 đến tháng 05/2010 bà Lâm Thị N đã cho bà Lâm Thị T (là em ruột) sử dụng thông tin cá nhân của bà để giao kết hợp đồng lao động với Công ty TNHH Quốc tế Return G và tham gia bảo hiểm xã hội với mã BHXH số: 7409236437. Bà Lâm Thị N đã nhiều lần liên hệ với Bảo hiểm xã hội thành phố Tân Uyên để điều chỉnh nhưng không thực hiện được vì có thời gian trùng do mượn giấy tờ nhân thân. Vì vậy, bà Lâm Thị N yêu cầu Tòa án tuyên bố hợp đồng lao động giữa bà Lâm Thị N (Do bà Lâm Thị T ký kết) và Công ty TNHH Quốc tế Return G (thời gian làm việc từ tháng 08/2009 đến tháng 05/2010) bị vô hiệu và không yêu cầu xử lý hậu quả của hợp đồng vô hiệu.

- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Lâm Thị T trình bày: Bà và bà Lâm Thị N có quan hệ chị em ruột. Năm 2009, do hoàn cảnh gia đình khó khăn và cũng không hiểu biết pháp luật chưa có giấy tờ tùy thân nên đã nhờ Giấy chứng minh nhân dân của bà Lâm Thị N để xin vào làm việc tại Công ty TNHH Quốc tế Return Gold và tham gia đóng bảo hiểm xã hội từ tháng 08/2009 đến tháng 05/2010 thì nghỉ việc. Nay, bà Lâm Thị T thống nhất toàn bộ yêu cầu của bà Lâm Thị N và đề nghị Tòa án tuyên bố hợp đồng lao động giữa bà Lâm Thị N và Công ty TNHH Quốc tế Return G bị vô hiệu. Bà Lâm Thị T không yêu cầu Tòa án giải quyết bất kỳ quyền lợi nghĩa vụ gì liên quan đến bà trong việc tuyên bố hợp đồng vô hiệu.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Bảo hiểm xã hội thành phố Tân Uyên, tỉnh Bình Dương (viết tắt là BHXH) trình bày: Qua kiểm tra đối chiếu dữ liệu của bà Lâm Thị N, sinh năm 1985, số Căn cước công dân: xxxxxxxxxxxx được Công ty TNHH Quốc tế Return Gold tham gia BHXH, bảo hiểm y tế (BHYT), bảo hiểm thất nghiệp (BHTN), bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp (BHTNLĐ-BNN), với mã số BHXH 7409236437 từ tháng 08/2009 đến tháng 05/2010. Thời điểm này Công ty TNHH Quốc tế Return Gold tham gia BHXH, BHYT, BHTN, BHTNLĐ-BNN tại VP Bảo hiểm xã hội tỉnh Bình Dương. Đã xác nhận quá trình đóng BHXH, BHTN, BHTNLĐ-BNN. Theo quy định hiện hành về đăng ký tham gia BHXH, BHYT, BHTN cơ quan BHXH không lưu giữ HĐLĐ và các giấy tờ tùy thân của người lao động mà do người sử dụng lao động quản lý, lưu giữ. Qua tra cứu thông tin giải quyết hưởng các chế độ BHXH, BHTN mã số 7409236437, tên Lâm Thị N đã hưởng BHXH một lần theo Quyết định số 031103114 ngày 14/6/2011, chưa hưởng trợ cấp BHTN. Về các yêu cầu của bà Lâm Thị N, đề nghị tuyên buộc theo quy định trên cơ sở đảm bảo nguyên tắc đóng, hưởng của người lao động và không ảnh hưởng đến quyền lợi của người tham gia BHXH.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Công ty TNHH Quốc tế Return Gold trình bày: Việc bà Lâm Thị T mượn hồ sơ của bà Lâm Thị N để tham gia ký kết hợp đồng lao động với Công ty thì thời điểm tuyển dụng Công ty không phát hiện được việc người lao động sử dụng hồ sơ giả vì hồ sơ đều có xác nhận của chính quyền địa phương cũng như lao động của công ty rất đông. Theo hồ sơ lưu trữ trên máy tính thì Công ty có tuyển dụng và ký hợp đồng lao động với bà Lâm Thị N và làm việc với vai trò là công nhân, đến tháng 05/2010 thì nghỉ việc, hiện quan hệ lao động giữa Công ty với bà Lâm Thị N đã chấm dứt, công ty đã chốt sổ bảo hiểm cho bà Lâm Thị N. Nay bà Lâm Thị N yêu cầu tuyên bố hợp đồng lao động giữa bà Lâm Thị N và Công ty TNHH Quốc tế Return G (Thời gian làm việc từ tháng 08/2009 đến tháng 05/2010) bị vô hiệu, Công ty hoàn toàn đồng ý.

- Ý kiến của Kiểm sát viên tham gia phiên họp:

Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Trong quá trình giải quyết việc lao động Thẩm phán và Thư ký đã thực hiện đúng trình tự thủ tục quy định tại Bộ luật Tố tụng Dân sự. Người yêu cầu, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự.

Về việc giải quyết việc dân sự: Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc lao động, đã được xem xét tại phiên họp, nhận thấy yêu cầu tuyên bố hợp đồng lao động giữa bà Lâm Thị N và Công ty TNHH Quốc tế Return G (Thời gian làm việc từ tháng 08/2009 đến tháng 05/2010) bị vô hiệu của người yêu cầu bà Lâm Thị N là có căn cứ nên đề nghị Tòa án chấp nhận.

Những yêu cầu, kiến nghị để khắc phục vi phạm về tố tụng: Không có.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ được thẩm tra tại phiên họp, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát, Tòa án nhân dân thành phố Tân Uyên, tỉnh Bình Dương nhận định:

Về việc vắng mặt của những người tham gia tố tụng: Người yêu cầu; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt. Do đó, Tòa án tiến hành phiên họp vắng mặt các đương sự nói trên theo khoản 2, khoản 3 Điều 367 của Bộ luật Tố tụng Dân sự.

Về nội dung:

Quá trình tố tụng các đương sự khai thống nhất: Trong thời gian từ tháng tháng 08/2009 đến tháng 05/2010, người lao động tên Lâm Thị N, sinh ngày 01/7/1985, số CCCD xxxxxxxxxxxx được Công ty TNHH Quốc tế Return Gold tham gia BHXH, bảo hiểm y tế (BHYT), bảo hiểm thất nghiệp (BHTN), bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp (BHTNLĐ-BNN), với mã số BHXH 7409236437. Quan hệ lao động giữa Công ty TNHH Quốc tế Return Gold và bà Lâm Thị N phát sinh từ hợp đồng lao động vào tháng 08/2009. Tuy nhiên, bà Lâm Thị N và bà Lâm Thị T thừa nhận người ký hợp đồng lao động với Công ty TNHH Quốc tế Return Gold và thực tế làm việc tại công ty là bà Lâm Thị T chứ không phải bà Lâm Thị N. Do bà Lâm Thị Thu Hà không có chứng minh nhân dân ký hợp đồng lao động nên bà Lâm Thị N đã cho bà Lâm Thị T mượn chứng minh nhân dân để đi làm việc. Trình bày của bà Lâm Thị N và bà Lâm Thị T phù hợp với hồ sơ bảo hiểm xã hội, cụ thể trong thời gian từ tháng 08/2009 đến tháng 5/2010 bà Lâm Thị N có quá trình tham gia bảo hiểm xã hội tại Công ty TNHH Quốc tế Return G và Công ty CP CBTS Phương Nam.

Xét thấy, việc bà Lâm Thị T sử dụng Giấy chứng minh nhân dân của bà Lâm Thị N để giao kết hợp đồng lao động với Công ty TNHH Quốc tế Return G là hành vi gian dối. Hành vi trên đã vi phạm nguyên tắc tự nguyện, bình đẳng, thiện chí, hợp tác và trung thực khi xác lập quan hệ lao động theo quy định tại khoản 1 Điều 15 của Bộ luật Lao động, vi phạm nghĩa vụ cung cấp thông tin theo quy định tại khoản 2 Điều 16 của Bộ luật Lao động nên thuộc trường hợp hợp đồng lao động vô hiệu toàn bộ theo khoản 1 Điều 49 của Bộ luật Lao động.

Quá trình làm việc, Bảo hiểm xã hội thành phố Tân Uyên đã cung cấp thông tin về thời gian đóng bảo hiểm xã hội của bà Lâm Thị N bị trùng từ tháng 08/2009 đến tháng 5/2009. Do đó, bà Lâm Thị N yêu cầu tuyên bố hợp đồng lao động được ký kết giữa Công ty TNHH Quốc tế Return với bà Lâm Thị N từ tháng 08/2009 đến tháng 5/2010 vô hiệu là có cơ sở chấp nhận.

Về hậu quả của hợp đồng vô hiệu: Các đương sự xác định không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét. Sau khi Quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật, người lao động có quyền liên hệ cơ quan Bảo hiểm xã hội để được giải quyết các chế độ bảo hiểm xã hội theo quy định.

Các bên có quyền và nghĩa vụ liên hệ cơ quan có thẩm quyền để thực hiện các thủ tục liên quan đến bảo hiểm theo quy định của pháp luật.

Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát về nội dung việc lao động, các thủ tục tố tụng, quá trình tiến hành tố tụng cũng như diễn biến tại phiên họp là phù hợp với quy định của pháp luật.

Về lệ phí: bà Lâm Thị N phải chịu theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ các Điều 33, 39, 149, 367, 401, 402 của Bộ luật Tố tụng Dân sự;

- Căn cứ các Điều 15, 16, 49, 50 và 51 của Bộ luật Lao động;

- Căn cứ Điều 37 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu giải quyết việc lao động của bà Lâm Thị N.

Tuyên bố hợp đồng lao động giữa bà Lâm Thị N, sinh năm 1985; địa chỉ thường trú: Ấp Phước Quới, xã Phú Tân, huyện Châu Thành, tỉnh Sóc Trăng với Công ty TNHH Quốc tế Return, thời gian từ tháng 08/2009 đến tháng 5/2010 bị vô hiệu.

Các bên có quyền và nghĩa vụ liên hệ cơ quan có thẩm quyền để thực hiện các thủ tục liên quan đến bảo hiểm theo quy định của pháp luật.

2. Lệ phí sơ thẩm giải quyết việc lao động: bà Lâm Thị N phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng), được khấu trừ tiền tạm ứng đã nộp theo biên lai thu số 0001549 ngày 31/5/2024 của Chi cục Thi hành án Dân sự thành phố Tân Uyên, tỉnh Bình Dương.

3. Người yêu cầu, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến việc giải quyết việc dân sự có quyền kháng cáo quyết định này trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày nhận được quyết định. Viện kiểm sát cùng cấp có quyền kháng nghị quyết định này trong thời hạn 10 ngày, Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp có quyền kháng nghị trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày Tòa án ra quyết định.

4. Trong trường hợp quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự./.

Cỡ chữ