vanban.org

Quyết định 32/2024/QĐST-LĐ — Yêu cầu tuyên bố hợp đồng lao động, thỏa ước lao động tập thể vô hiệu

TAND TX. Dĩ An, tỉnh Bình Dương Tuyên án 16/04/2024 Lao động Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận toàn bộ yêu cầu giải quyết việc lao động của bà Nguyễn Thị Kim Ph1.

Tuyên bố hợp đồng lao động giữa bà Nguyễn Thị Kim Ph1 với Công ty TNHH Ph1, thời gian làm việc từ tháng 6/2009 đến tháng 02/2012 bị vô hiệu. Các bên có quyền và nghĩa vụ liên hệ cơ quan có thẩm quyền để thực hiện các thủ tục liên quan đến bảo hiểm theo quy định của pháp luật. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Yêu cầu tuyên bố hợp đồng lao động, thỏa ước lao động tập thể vô hiệu — án lao động — "Nguyễn Thị Kim Ph yêu cầu tuyên bố hợp đồng lao động vô hiệu"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận toàn bộ yêu cầu giải quyết việc lao động của bà Nguyễn Thị Kim Ph1.
  • Căn cứ chính? Điều 149 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 15 Bộ luật Lao động; Điều 16 Bộ luật Lao động
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ DĨ AN
TỈNH BÌNH DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 32/2024/QĐST-LĐDĩ An, ngày 16 tháng 4 năm 2024

QUYẾT ĐỊNH

SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC LAO ĐỘNG

V/v yêu cầu tuyên bố hợp đồng lao động vô hiệu

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG

Thành phần giải quyết việc lao động gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Bà Chu Thị Vân.

Thư ký phiên họp: Ông Lê Duy Long - Thư ký Tòa án.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương tham gia phiên họp: Bà Nguyễn Thị Hạnh - Kiểm sát viên.

Ngày 16 tháng 4 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân thành phố Dĩ An mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc lao động thụ lý số: 49/2024/TLST-

“

VLĐ ngày 01 tháng 4 năm 2024 về việc Yêu cầu tuyên bố hợp đồng lao động vô hiệu” theo Quyết định mở phiên họp sơ thẩm giải quyết việc lao động số: 39/2024/QĐST-LĐ ngày 11 tháng 4 năm 2024, gồm những người tham gia tố tụng sau đây:

- Người yêu cầu giải quyết việc lao động: Bà Nguyễn Thị Kim Ph1, sinh năm 1991; thường trú: Ấp Đ, xã V, huyện Ch, tỉnh An Giang; địa chỉ liên hệ: Ấp Tr, xã H, huyện Tr, tỉnh Vĩnh Long; Chứng minh nhân dân số xxxxxxxxx. Có yêu cầu giải quyết vắng mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1/ Bà H1, sinh năm 1994; thường trú: Tổ 5, ấp Th, xã Th, huyện G, tỉnh Kiên Giang; địa chỉ liên hệ: Tổ 39, khu phố Ch, phường T, thành phố D, tỉnh Bình Dương. Có yêu cầu giải quyết vắng mặt.

2/ Công ty TNHH Ph; địa chỉ: Đường Ng, khu phố Ch, phường T, thành phố D, tỉnh Bình Dương; người đại diện hợp pháp: Ông Ngô Minh T, là người đại diện theo ủy quyền (Văn bản ủy quyền ngày 10/4/2024). Có yêu cầu giải quyết vắng mặt.

3/ Bảo hiểm xã hội thành phố D, tỉnh Bình Dương; địa chỉ: Đường T, Trung tâm hành chính Dĩ An, phường Dĩ An, thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương. Người đại diện hợp pháp: Ông Dương Văn Tr, là người đại diện theo ủy quyền (văn bản ủy quyền ngày 09/4/2024). Có yêu cầu giải quyết vắng mặt.

NỘI DUNG VIỆC LAO ĐỘNG:

- Theo đơn yêu cầu giải quyết việc lao động và lời khai trong quá trình giải quyết bà Nguyễn Thị Kim Ph1 trình bày:

Từ tháng 8/2009 đến 3/2010 bà Ph1 làm việc tại Công ty TNHH Morishige và có đóng bảo hiểm xã hội (đã nhận bảo hiểm xã hội một lần). Nay bà Ph1 tiến hành điều chỉnh thông tin bảo hiểm xã hội thì cơ quan Bảo hiểm xã hội rà soát và phát hiện hồ sơ bảo hiểm của bà Ph1 bị trùng. Nguyên nhân là do bà H1 đã sử dụng thông tin của bà Ph1 để giao kết Hợp đồng lao động với Công ty TNHH Ph trong khoảng thời gian từ tháng 6/2009 đến tháng 02/2012. Đồng thời, trong thời gian này bà Ph1 đang giao kết hợp đồng lao động với Công ty TNHH Morishige. Do đó, bà Ph1 bị trùng thời gian tham gia bảo hiểm từ tháng 6/2009 đến tháng 02/2012 tương đương với thời gian bà H1 mượn hồ sơ lao động của bà Ph1.

Nay bà Ph1 yêu cầu Tòa án tuyên bố hợp đồng lao động giữa bà Nguyễn Thị Kim Ph1 với Công ty TNHH Ph thời gian làm việc từ tháng 6/2009 đến tháng 02/2012 là vô hiệu.

- Ông Dương Văn Tr là người đại diện hợp pháp của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Bảo hiểm xã hội thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương (viết tắt là BHXH) trình bày: Qua kiểm tra đối chiếu dữ liệu tham gia BHXH, bảo hiểm y tế (BHYT), bảo hiểm thất nghiệp (BHTN) của Công ty TNHH Ph1 cho người lao động thì công ty có tham gia BHXH, BHYT, BHTN cho bà Nguyễn Thị Kim Ph1 với mã số BHXH 7409210354 từ tháng 6/2009 đến tháng 02/2012 đã nhận trợ cấp BHXH. Về hợp đồng lao động, giấy tờ tùy thân của bà Ph1, BHXH không lưu trữ những hồ sơ này. Về các yêu cầu khác của bà Ph1 thì Bảo hiểm xã hội thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương không có ý kiến.

- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà H1 trình bày: Bà và bà Nguyễn Thị Kim Ph1 có quan hệ chị em họ. Năm 2009, bà chưa có chứng minh nhân dân nên đã nhờ chứng minh nhân dân của bà Nguyễn Thị Kim Ph1 để xin vào làm việc tại Công ty TNHH Ph1 và tham gia đóng bảo hiểm xã hội từ tháng 6/2009 đến tháng 02/2012 thì nghỉ việc và đã nhận trợ cấp BHXH. Nay bà Hiền thống nhất toàn bộ yêu cầu của bà Nguyễn Thị Kim Ph1 và đề nghị Tòa án tuyên bố hợp đồng lao động giữa bà Nguyễn Thị Kim Ph1 với Công ty TNHH Ph1 (thời gian làm việc từ tháng 6/2009 đến tháng 02/2012) là vô hiệu. Bà Hiền không yêu cầu Tòa án giải quyết bất kỳ quyền lợi nghĩa vụ gì liên quan đến bà trong việc tuyên bố hợp đồng vô hiệu.

- Ông Ngô Minh Tuấn là người đại diện hợp pháp của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan Công ty TNHH Ph1 (gọi tắt là Công ty) trình bày: Khoảng tháng 4/2009 bà Nguyễn Thị Kim Ph1 vào làm việc tại Công ty TNHH Ph1, đến tháng 6/2009 bà Ph1 được tham gia bảo hiểm xã hội số sổ BHXH 7409210354. Công ty không biết việc bà Ph1 cho bà H1 mượn chứng minh nhân dân để xin việc. Bà Ph1 đã chấm dứt hợp đồng lao động với Công ty, mọi quyền lợi của người lao động khi chấm dứt hợp đồng đã được giải quyết theo quy định của pháp luật nên Công ty không còn quyền lợi, nghĩa vụ gì liên quan với bà Ph1. Vì vậy, đối với yêu cầu của bà Ph1 thì Công ty đề nghị Tòa án xem xét theo quy định của pháp luật.

- Tại phiên họp, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An phát biểu ý kiến về việc giải quyết việc lao động và đề nghị: Quá trình tố tụng, Thẩm phán, Thư ký phiên họp và đương sự đã chấp hành theo đúng quy định của pháp luật. Về nội dung: Xét thấy, yêu cầu của bà Nguyễn Thị Kim Ph1 là có căn cứ, đề nghị Tòa án xem xét chấp nhận.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ được thẩm tra tại phiên họp, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát, Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương nhận định:

Về thủ tục tố tụng: Người yêu cầu bà Nguyễn Thị Kim Ph1; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà H1, Bảo hiểm xã hội thành phố Dĩ An; Công ty TNHH Ph1 đều có yêu cầu giải quyết vắng mặt. Vì vậy, căn cứ Điều 367 Bộ luật Tố tụng Dân sự, Tòa án tiến hành phiên họp vắng mặt các đương sự.

Về nội dung:

Quá trình tố tụng các đương sự khai thống nhất: Trong thời gian từ tháng 6/2009 đến tháng 02/2012, người lao động tên Nguyễn Thị Kim Ph1, sinh ngày 28/02/1991, chứng minh nhân dân số xxxxxxxxx, được Công ty TNHH Ph1 tham gia bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp từ tháng 6/2009 với mã số bảo hiểm xã hội là 7409210354. Quan hệ lao động giữa Công ty TNHH Ph1 và bà Nguyễn Thị Kim Ph1 phát sinh từ hợp đồng lao động từ tháng 4/2009. Tuy nhiên, bà Nguyễn Thị Kim Ph1 và bà H1 thừa nhận người ký hợp đồng lao động với Công ty TNHH Ph1 và thực tế làm việc tại Công ty trong khoảng thời gian từ tháng 4/2009 đến tháng 02/2012 là bà H1 chứ không phải bà Nguyễn Thị Kim Ph1. Do bà Hiền chưa làm chứng minh nhân dân nên bà Ph1 đã cho bà Hiền mượn chứng minh nhân dân để xin việc làm. Trình bày của bà Nguyễn Thị Kim Ph1 và bà H1 phù hợp với hồ sơ bảo hiểm xã hội, cụ thể trong thời gian từ tháng 8/2009 đến tháng 3/2010 bà Nguyễn Thị Kim Ph1 còn có quá trình tham gia bảo hiểm xã hội tại Công ty TNHH Morishige.

Xét thấy, việc bà H1 sử dụng chứng minh nhân dân của bà Nguyễn Thị Kim Ph1 để giao kết hợp đồng lao động với Công ty TNHH Ph1 là hành vi gian dối. Hành vi trên đã vi phạm nguyên tắc tự nguyện, bình đẳng, thiện chí, hợp tác và trung thực khi xác lập quan hệ lao động theo quy định tại khoản 1 Điều 15 của Bộ luật Lao động, vi phạm nghĩa vụ cung cấp thông tin theo quy định tại khoản 2 Điều 16 của Bộ luật Lao động nên thuộc trường hợp hợp đồng lao động vô hiệu toàn bộ theo quy định tại khoản 1 Điều 49 của Bộ luật Lao động.

Quá trình làm việc, Bảo hiểm xã hội thành phố Dĩ An đã cung cấp thông tin về thời gian đóng bảo hiểm xã hội của bà Nguyễn Thị Kim Ph1 bị trùng từ tháng 6/2009 đến tháng 02/2012. Do đó, bà Nguyễn Thị Kim Ph1 yêu cầu tuyên bố hợp đồng lao động được ký kết giữa Công ty TNHH Ph1 với bà Nguyễn Thị Kim Ph1 từ tháng 6/2009 đến tháng 02/2012 bị vô hiệu là có căn cứ chấp nhận.

Về hậu quả của hợp đồng vô hiệu: Các đương sự xác định không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét. Sau khi Quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật, người lao động có quyền liên hệ cơ quan Bảo hiểm xã hội để được giải quyết các chế độ bảo hiểm xã hội theo quy định.

Các bên có quyền và nghĩa vụ liên hệ cơ quan có thẩm quyền để thực hiện các thủ tục liên quan đến bảo hiểm theo quy định của pháp luật.

Y kiến của đại diện Viện kiểm sát về nội dung việc lao động, các thủ tục tố tụng, quá trình tiến hành tố tụng cung như diễn biến tại phiên họp là phù hợp với quy định của pháp luật.

Về lệ phí: Bà Nguyễn Thị Kim Ph1 phải chịu theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ các Điều 33, 39, 149, 367, 401, 402 của Bộ luật Tố tụng Dân sự;

- Căn cứ các Điều 15, 16, 49, 50 và 51 của Bộ luật Lao động;

- Căn cứ Điều 37 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu giải quyết việc lao động của bà Nguyễn Thị Kim Ph1.

Tuyên bố hợp đồng lao động giữa bà Nguyễn Thị Kim Ph1 với Công ty TNHH Ph1, thời gian làm việc từ tháng 6/2009 đến tháng 02/2012 bị vô hiệu.

Các bên có quyền và nghĩa vụ liên hệ cơ quan có thẩm quyền để thực hiện các thủ tục liên quan đến bảo hiểm theo quy định của pháp luật.

2. Lệ phí sơ thẩm giải quyết việc lao động: Bà Nguyễn Thị Kim Ph1 phải chịu 300.000đ (ba trăm nghìn đồng), được khấu trừ tiền tạm ứng đã nộp theo biên lai thu số 0004541 ngày 13/3/2024 của Chi cục Thi hành án Dân sự thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương.

3. Người yêu cầu, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo trong thời hạn 10 (mười) ngày, kể từ ngày nhận được quyết định hoặc kể từ ngày quyết định được thông báo, niêm yết. Viện kiểm sát cùng cấp có quyền kháng nghị quyết định giải quyết trong thời hạn 10 (mười) ngày, Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp có quyền kháng nghị trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày Tòa án ra quyết định.

4. Trong trường hợp quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ