vanban.org

Quyết định 32/2024/QĐST-LĐ — Yêu cầu tuyên bố hợp đồng lao động, thỏa ước lao động tập thể vô hiệu

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu giải quyết việc dân sự của chị Phạm Thị C.

Tuyên bố hợp đồng lao động giữa chị Phạm Thị C, sinh năm 1986; địa chỉ: Ấp 2, xã Đ, huyện H, tỉnh Long An (do chị Dương Bích T ký kết) với Công ty TNHH F Việt Nam từ tháng 9-2005 đến tháng 3-2009 vô hiệu. Các bên có quyền và nghĩa vụ liên hệ cơ quan có thẩm quyền để thực hiện các thủ tục liên quan đ… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Yêu cầu tuyên bố hợp đồng lao động, thỏa ước lao động tập thể vô hiệu — án lao động — "Chị Phạm Thị C yêu cầu tuyên bố Hợp đồng lao động vô hiệu"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu giải quyết việc dân sự của chị Phạm Thị C.
  • Căn cứ chính? Điều 149 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 15 Bộ luật Lao động và Nghị; Điều 16 Bộ luật Lao động và Nghị
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ TRẢNG BÀNG
TỈNH TÂY NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 32/2024/QĐST-LĐTrảng Bàng, ngày 24 tháng 6 năm 2024

QUYẾT ĐỊNH

SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ

V/v Yêu cầu tuyên bố hợp đồng lao động vô hiệu

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ TRẢNG BÀNG, TỈNH TÂY NINH

Thành phần giải quyết việc dân sự gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên họp: Ông Võ Tuấn Anh.

Thư ký phiên họp: Ông Phạm Văn Hảnh – Thư ký Tòa án nhân thị xã Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh tham gia phiên họp: Ông Võ Trường Thọ – Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số: 07/2024/TLST-LĐ ngày 27 tháng 3 năm 2024 về việc “Yêu cầu tuyên bố hợp đồng lao động vô hiệu” theo Quyết định mở phiên họp sơ thẩm giải quyết việc dân sự số: 44/2024/QĐST-LĐ ngày 11 tháng 6 năm 2024, gồm những người tham gia tố tụng sau đây:

- Người yêu cầu giải quyết việc dân sự: Chị Phạm Thị C, sinh năm 1986.

Địa chỉ: Ấp 2, xã Đ, huyện H, tỉnh Long An.

Người đại diện theo ủy quyền của người yêu cầu giải quyết việc dân sự: Anh Phan Phụng Đức H1, sinh năm 1989. Địa chỉ: Thôn PH 3, xã E, huyện P, tỉnh Đắk Lắk. Tạm trú: Khu phố LT, phường L, thị xã B, tỉnh Tây Ninh (Văn bản uỷ quyền ngày 28-5-2024) (Vắng mặt).

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. Chị Dương Bích T, sinh năm 1989 (Vắng mặt).

Địa chỉ: Khu phố GH, phường B, thị xã B, tỉnh Tây Ninh.

2. Công ty TNHH F Việt Nam.

Địa chỉ trụ sở chính: Đường số 6, Khu công nghiệp B, phường AT, thị xã B, tỉnh Tây Ninh.

Người đại diện theo pháp luật: Ông Huang Wen J, chức vụ: Tổng giám đốc.

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Lu Hsueh L1, chức vụ: Phó Tổng giám đốc (Văn bản ủy quyền ngày 01-01-2024) (Vắng mặt).

3. Bảo hiểm xã hội tỉnh Tây Ninh.

Địa chỉ trụ sở: Số 233, đường Nguyễn Chí Thanh, Khu phố 5, Phường 3, thành phố Tây Ninh, tỉnh Tây Ninh.

Người đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Văn H2, chức vụ: Giám đốc.

Người đại diện theo ủy quyền: Bà Lâm Thị Hồng T1, chức vụ: Giám đốc Bảo hiểm xã hội thị xã B, tỉnh Tây Ninh (Văn bản uỷ quyền ngày 01-4-2024) (Vắng mặt).

NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ:

Người yêu cầu giải quyết việc dân sự chị Phạm Thị C và người đại diện theo ủy quyền của chị Chẳng là anh Phan Phụng Đức H1 trình bày:

Năm 2005 do quen biết với nhau nên chị Phạm Thị C có cho chị Dương Bích T mượn giấy chứng minh nhân dân để đi làm tại Công ty TNHH F Việt Nam và chị T được Công ty TNHH F Việt Nam tham gia bảo hiểm xã hội với số sổ: 4507004245 từ tháng 9-2005 đến tháng 3-2009 chị Tuyền thôi việc. Đồng thời, chị T đã rút các khoản tiền bảo hiểm xã hội được hưởng trong thời gian mà chị T làm việc tại Công ty TNHH F Việt Nam. Trong khi đó, tháng 12-2006 chị C được nhận vào làm việc tại Công ty TNHH P (Việt Nam) và chị C được Công ty TNHH P (Việt Nam) tham gia bảo hiểm xã hội. Đến tháng 5-2008 chị C xin nghỉ việc và đã rút toàn bộ số tiền được hưởng bảo hiểm xã hội trong giai đoạn chị làm việc tại Công ty này. Đến tháng 6-2014 chị C tiếp tục làm việc tại Công ty TNHH IL Việt Nam và được Công ty TNHH IL Việt Nam tham gia bảo hiểm xã hội đến tháng 8-2014 chị C xin nghỉ việc mà chưa nhận các khoản tiền bảo hiểm xã hội. Tiếp tục tháng 01-2016 chị C làm việc tại Công ty TNHH Team Việt Nam và được Công ty TNHH Team Việt Nam tham gia bảo hiểm cho đến tháng 7-2021 do ảnh hưởng của dịch bệnh Covid-19 nên chị C xin nghỉ việc. Đến tháng 5-2023 chị C thực hiện các thủ tục để được nhận các khoản tiền bảo hiểm xã hội với số sổ bảo hiểm xã hội: 7222466678 không được do cùng một tên “Phạm Thị C” và cùng một thời điểm lại tham gia bảo hiểm xã hội tại 02 Công ty khác nhau. Do đó, chị C yêu cầu tuyên bố hợp đồng lao động giữa chị T (đứng dưới tên Phạm Thị C) với Công ty TNHH F Việt Nam vô hiệu.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chị Dương Bích T trình bày:

Chị và chị C có quen biết với nhau do gần nhà nên năm 2005 do chưa đủ tuổi để đi làm nên chị có mượn giấy chứng minh nhân dân mang tên Phạm Thị Chẳng để đi làm tại Công ty TNHH F Việt Nam. Chị đã làm việc tại Công ty này từ tháng 9-2005 cho đến tháng 3-2009 chị xin nghỉ việc và trong thời gian này Công ty có tham gia bảo hiểm xã hội cho chị. Sau khi nghỉ việc chị đã nhận số tiền bảo hiểm xã hội của thời gian đi làm tại Công ty này. Hiện tại, chị C đã nghỉ việc nhưng chưa nhận được tiền bảo hiểm xã hội do thời điểm chị Chẳng cho chị mượn giấy chứng minh nhân dân để đi làm thì chị C đang làm việc tại Công ty TNHH P (Việt Nam) và Công ty có tham gia đóng bảo hiểm xã hội cho chị C. Do đó, có sự việc trùng thời gian đóng bảo hiểm xã hội như chị C đã trình bày. Nay chị đồng ý tuyên bố hợp đồng lao động được ký kết giữa chị đứng dưới tên Phạm Thị C với Công ty TNHH F Việt Nam vô hiệu.

Tại Văn bản số: 240607/2024 ngày 06-6-2024 người đại diện theo ủy quyền của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Công ty TNHH F Việt Nam là ông Lu Hsueh L1 trình bày:

Ngày 01-9-2005 Công ty TNHH F Việt Nam và chị C ký hợp đồng lao động, chị C được tuyển dụng vào vị trí công nhân thuê và chị C làm việc tại Công ty từ tháng 9-2005 đến tháng 3-2009 nghỉ việc nên Công ty đã chấm dứt hợp đồng lao động với chị C kể từ tháng 3-2009. Trong quá trình thực hiện hợp đồng, Công ty thực hiện đóng bảo hiểm xã hội cho chị C từ tháng 9-2005 đến tháng 3-2009 với số sổ bảo hiểm xã hội là 4507004245 và thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ khác cho người lao động theo đúng quy định của pháp luật. Công ty không biết việc chị Tmượn giấy chứng minh nhân dân của chị C để ký kết hợp đồng lao động với Công ty. Nay Công ty đồng ý với yêu cầu tuyên bố hợp đồng lao động giữa chị T đứng dưới tên Phạm Thị C và Công ty vô hiệu.

Tại Văn bản số: 915/BHXH-BTXTB ngày 20-5-2024 người đại diện theo ủy quyền của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Bảo hiểm xã hội tỉnh Tây Ninh là bà Lâm Thị Hồng T1 trình bày:

Bảo hiểm xã hội thị xã B cung cấp quá trình tham gia bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp của chị C với mã số bảo hiểm xã hội: 4507004245 và chị C đã hưởng trợ cấp bảo hiểm xã hội 01 lần trong quá trình đóng bảo hiểm xã hội tại Công ty TNHH F Việt Nam từ tháng 9-2005 đến tháng 3-2009. Kiến nghị Tòa án xem xét tuyên bố hợp đồng lao động giữa chị C và Công ty TNHH F Việt Nam vô hiệu.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh là ông Võ Trường Thọ phát biểu:

- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Thẩm phán, Thư ký và đương sự chấp hành đúng theo các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

- Về việc giải quyết vụ án: Căn cứ các điều 15, 16, 49 của Bộ luật Lao động và Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án, đề nghị Hội đồng giải quyết việc dân sự xem xét quyết định:

1. Chấp nhận yêu cầu giải quyết việc lao động của chị C. Tuyên bố hợp đồng lao động giữa chị T và Công ty TNHH F Việt Nam ký kết dưới tên chị C là vô hiệu.

2. Chị C phải chịu lệ phí sơ thẩm giải quyết việc lao động theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp; ý kiến của các đương sự và đại diện Viện kiểm sát tại phiên họp, Tòa án nhân dân thị xã Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh nhận định:

Về tố tụng:

Về thẩm quyền giải quyết của Tòa án:

“Yêu cầu tuyên bố hợp đồng lao động vô hiệu” thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại khoản 1 Điều 33 và điểm d khoản 2 Điều 35 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Hợp đồng lao động được giao kết và thực hiện tại Công ty TNHH F Việt Nam có địa chỉ trụ sở chính tại: Đường số 6, Khu công nghiệp B, phường AT, thị xã B, tỉnh Tây Ninh nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã B theo quy định tại điểm v khoản 2 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về sự vắng mặt của đương sự:

Anh H1, chị T, ông Lu Hsueh L1 và bà T2 vắng mặt nhưng có đơn đề nghị Tòa án giải quyết vắng mặt nên Thẩm phán vẫn tiến hành mở phiên họp vắng mặt anh H1, chị T, ông Lu Hsueh L1 và bà T2 là phù hợp với khoản 2 Điều 367 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về yêu cầu của đương sự:

Chị C yêu cầu tuyên bố hợp đồng lao động giữa chị C (do chị T sử dụng giấy chứng minh nhân dân của chị C để ký kết) với Công ty TNHH F Việt Nam vô hiệu:

Xét thấy, trong quá trình giải quyết vụ việc chị Ch và chị T đều xác định là chị T có mượn giấy chứng minh nhân dân của chị C để đi làm việc tại Công ty TNHH F Việt Nam với thời gian từ tháng 9-2005 đến tháng 3-2009. Vì vậy, việc chị T sử dụng thông tin cá nhân của chị C để giao kết hợp đồng lao động với Công ty TNHH F từ tháng 9-2005 đến tháng 3-2009 là gian dối. Hành vi trên là vi phạm nguyên tắc “Trung thực”, vi phạm nghĩa vụ cung cấp thông tin khi giao kết hợp đồng lao động theo quy định tại khoản 1 Điều 15 và khoản 2 Điều 16 của Bộ luật Lao động nên hợp đồng lao động vô hiệu theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 49 của Bộ luật Lao động.

Quá trình giải quyết vụ việc, Bảo hiểm xã hội thị xã B đã cung cấp thông tin về thời gian đóng bảo hiểm xã hội của chị C và qua đối chiếu quá trình tham gia bảo hiểm xã hội của chị C thể hiện: Thời gian đóng bảo hiểm xã hội mang tên chị C bị trùng từ tháng 12-2006 đến tháng 5-2008 do làm tại 02 Công ty khác nhau nhưng chị C đã hưởng trợ cấp bảo hiểm xã hội 01 lần của quá trình đóng bảo hiểm xã hội tại Công ty TNHH F Việt Nam từ tháng 9-2005 đến tháng 3-2009.

Từ những phân tích trên, xét thấy việc chị C yêu cầu tuyên bố hợp đồng lao động giữa chị C (do chị T sử dụng giấy chứng minh nhân dân của chị C để ký kết) với Công ty TNHH F Việt Nam từ tháng 9-2005 đến tháng 3-2009 vô hiệu là có căn cứ và phù hợp nên Tòa án cần chấp nhận.

Các bên có quyền và nghĩa vụ liên hệ cơ quan có thẩm quyền để thực hiện các thủ tục liên quan đến bảo hiểm theo quy định của pháp luật.

Xét toàn bộ đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh là có căn cứ và phù hợp nên Tòa án cần chấp nhận.

Về lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự:

Chị C là người yêu cầu Tòa án giải quyết việc dân sự nên chị C phải chịu lệ phí sơ thẩm theo quy định tại khoản 1 Điều 37 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội ngày 30-12-2016 quy định về án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ các điều 33, 35, 39, 149, 367, 401, 402 của Bộ luật Tố tụng dân sự; các điều 15, 16, 49, 50, 51 của Bộ luật Lao động và khoản 1 Điều 37 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội ngày 30-12-2016 quy định về án phí và lệ phí Tòa án.

1. Chấp nhận yêu cầu giải quyết việc dân sự của chị Phạm Thị C.

Tuyên bố hợp đồng lao động giữa chị Phạm Thị C, sinh năm 1986; địa chỉ: Ấp 2, xã Đ, huyện H, tỉnh Long An (do chị Dương Bích T ký kết) với Công ty TNHH F Việt Nam từ tháng 9-2005 đến tháng 3-2009 vô hiệu.

Các bên có quyền và nghĩa vụ liên hệ cơ quan có thẩm quyền để thực hiện các thủ tục liên quan đến bảo hiểm theo quy định của pháp luật.

2. Lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự:

Chị C phải chịu 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng, nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng mà chị C đã nộp là 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng theo biên lai thu số 0014822 ngày 27 tháng 3 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh. Ghi nhận chị C đã nộp xong tiền lệ phí.

3. Quyền kháng cáo, kháng nghị:

Đương sự không có mặt tại phiên họp giải quyết việc dân sự có quyền kháng cáo quyết định giải quyết việc dân sự trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày nhận được quyết định giải quyết việc dân sự hoặc kể từ ngày quyết định giải quyết việc dân sự được thông báo, niêm yết.

Viện kiểm sát cùng cấp có quyền kháng nghị quyết định giải quyết việc dân sự trong thời hạn 10 ngày, Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp có quyền kháng nghị trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày Tòa án ra quyết định.

4. Quyền yêu cầu thi hành án, nghĩa vụ thi hành án, thời hiệu yêu cầu thi hành án:

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự, người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ