vanban.org

Quyết định 312/2025/QĐST-LĐ — Yêu cầu tuyên bố hợp đồng lao động, thỏa ước lao động tập thể vô hiệu

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận toàn bộ yêu cầu giải quyết việc lao động c a bà Bùi Thị D.

Tuyên bố hợp đồng lao động giữa bà Bùi Thị D với Công ty Cổ phần G (theo sổ bảo hiểm xã hội số 7408272045) bị vô hiệu. Xác định người lao động theo sổ bảo hiểm xã hội số 7408272045 không phải là bà Bùi Thị D, sinh năm 1988, giới tính: Nữ, quốc tịch: Việt Nam, căn cước công dân số xxxxxxxxxxxx. Bà Bù… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Yêu cầu tuyên bố hợp đồng lao động, thỏa ước lao động tập thể vô hiệu — án lao động — "BUI THI D"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận toàn bộ yêu cầu giải quyết việc lao động c a bà Bùi Thị D.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Lao động; Điều 402 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 52 Bộ luật Lao động
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 16 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Số: 312/2025/QĐST-LĐ
Tp. Hồ Chí Minh, ngày 19 tháng 12 năm 2025

QUYẾT ĐỊNH

SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC LAO ĐỘNG

V/v yêu cầu tuyên bố hợp đồng lao động vô hiệu

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 16 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Thành phần giải quyết việc lao động gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Bà Võ Thị Thu Thảo

Thư ký phiên họp: Ông Trần Hồng Sơn – Thư ký Tòa án.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 16 - Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên họp: Bà Bùi Thị Xuân Tình – Kiểm sát viên.

Ngày 19 tháng 12 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân khu vực 16 – Thành phố Hồ Chí Minh mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc lao động thụ lý số: 428/2025/LĐ-ST ngày 04 tháng 12 năm 2025 về việc “Yêu cầu tuyên bố hợp đồng lao động vô hiệu” theo Quyết định mở phiên họp sơ thẩm giải quyết việc lao động số: 420/2025/QĐST-LĐ ngày 15 tháng 12 năm 2025, gồm những người tham gia tố tụng sau đây:

- Người yêu cầu: Bà Bùi Thị D, sinh năm 1988; địa chỉ thường trú: xóm R, xã Đ, tỉnh Phú Thọ; địa chỉ liên hệ: C N, khu phố N, phường D, Thành phố Hồ Chí Minh, có yêu cầu giải quyết vắng mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. Bà Bùi Thị D1, sinh năm 1992; địa chỉ thường trú: xóm Đ, xã Đ, tỉnh Phú Thọ, có yêu cầu giải quyết vắng mặt.

2. Công ty Cổ phần G; địa chỉ: số H Đại lộ Đ, khu công nghiệp S, phường D, Thành phố Hồ Chí Minh, vắng mặt.

3. Bảo hiểm xã hội cơ sở D2; địa chỉ: Đường T, khu T, phường D, Thành phố Hồ Chí Minh, có yêu cầu giải quyết vắng mặt.

NỘI DUNG VIỆC LAO ĐỘNG:

- Theo đơn yêu cầu giải quyết việc lao động và lời khai trong quá trình giải quyết bà Bùi Thị D trình bày: Khoảng tháng 11 năm 2025, bà Bùi Thị D đi làm th tục tại Bảo hiểm xã hội thì được biết bảo hiểm xã hội c a bà D bị trùng trong khoảng thời gian t tháng 10 năm 2008 đến tháng 01 năm 2011. Nguyên nhân bị trùng bảo hiểm xã hội là do vào khoảng tháng 10 năm 2008 bà Bùi Thị D có cho bà Bùi Thị D1 mượn chứng minh nhân dân để ký kết hợp đồng lao động với Công ty Cổ phần G, quá trình làm việc bà Bùi Thị D1 được Công ty Cổ phần G tham gia bảo hiểm xã hội với số sổ bảo hiểm là 7408272045. Vì thiếu hiểu biết, nghĩ rằng việc cho bà Bùi Thị D1 mượn chứng minh nhân dân để ký kết hợp đồng lao động với Công ty Cổ phần G là không vi phạm gì và chỉ mong muốn cho bà Bùi Thị D1 có công việc để trang trải cuộc sống. Vì vậy, bà D yêu cầu Tòa án tuyên bố hợp đồng lao động giữa bà Bùi Thị D với Công ty Cổ phần G là vô hiệu, bà Bùi Thị D không yêu cầu Tòa án giải quyết hậu quả khi tuyên hợp đồng vô hiệu.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Bùi Thị D1 trình bày: Bà và bà D có mối quan hệ chị em họ. Khoảng tháng 10 năm 2008, do bà chưa đ tuổi lao động nên đã mượn chứng minh nhân dân c a bà D để xin vào làm việc tại Công ty Cổ phần G và tham gia đóng bảo hiểm xã hội t tháng 10 năm 2008 đến tháng 01 năm 2011 với số sổ bảo hiểm xã hội là 7408272045. Nay bà Bùi Thị D1 thống nhất toàn bộ yêu cầu c a bà D và đề nghị Tòa án tuyên bố hợp đồng lao động giữa bà Bùi Thị D với Công ty Cổ phần G là vô hiệu. Sau khi kết thúc hợp đồng lao động với Công ty Cổ phần G thì bà chưa nhận trợ cấp bảo hiểm gì, bà cũng không yêu cầu gì liên quan đến bảo hiểm trong trường hợp Tòa án chấp nhận yêu cầu c a bà D, bà Bùi Thị D1 không yêu cầu giải quyết hậu quả c a hợp đồng vô hiệu.

- Công ty Cổ phần G trình bày: Công ty Cổ phần G đã được Tòa án thông báo và tống đạt các văn bản tố tụng để tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án theo đúng quy định tại các Điều 178; Điều 366; Điều 367; Điều 369 c a Bộ luật Tố tụng dân sự. Tuy nhiên Công ty Cổ phần G đều vắng mặt không rõ lý do.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Bảo hiểm xã hội cơ sở D2 (viết tắt là BHXH) trình bày: Qua kiểm tra đối chiếu dữ liệu tham gia BHXH, bảo hiểm y tế (BHYT), bảo hiểm thất nghiệp (BHTN) c a Công ty Cổ phần G cho người lao động thì Công ty có tham gia BHXH, BHYT, BHTN cho Bà Bùi Thị D sinh năm 1988 số CCCD xxxxxxxxxxxx, với mã số BHXH 7408272045 có quá trình tham gia BHXH t tháng 10/2008 đến tháng 01/2011 đã chốt sổ và chưa nhận trợ cấp BHXH một lần. Qua kiểm tra dữ liệu, bà Bùi Thị D còn có mã số BHXH 9107059646 có quá trình tham gia BHXH t tháng 03/2007 đến tháng 07/2022 tại Công ty TNHH H (HSV.). Về đề nghị yêu cầu tuyên bố hợp đồng lao động vô hiệu giữa bà Bùi Thị D và Công ty Cổ phần G, đề nghị Tòa án Nhân dân thành phố Căn cứ theo Điều 9, Điều 10, Điều 11 c a Nghị định số 145/2020/NĐ-CP quy định về việc xử lý hợp đồng lao động vô hiệu để tuyên bố hợp đồng lao động vô hiệu. Công ty Cổ phần G có giao kết lại hợp đồng lao động với người mượn hồ sơ hay không? Về hợp đồng lao động, giấy tờ tùy thân c a bà Bùi Thị D, BHXH không có lưu trữ những hồ sơ này. Về các yêu cầu khác c a bà Bùi Thị D, BHXH không có ý kiến.

- Tại phiên họp, đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 16 - Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu ý kiến về việc giải quyết việc lao động và đề nghị: Quá trình tố tụng, Thẩm phán, Thư ký phiên họp và đương sự đã chấp hành theo đúng quy định c a pháp luật. Về nội dung: Xét thấy, yêu cầu c a bà Bùi Thị D là có căn cứ, đề nghị Tòa án xem xét chấp nhận.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về th tục tố tụng: Người yêu cầu bà Bùi Thị D; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Bùi Thị D1 và Bảo hiểm xã hội cơ sở D2 đều có yêu cầu giải quyết vắng mặt. Công ty Cổ phần G vắng mặt không rõ lý do. Căn cứ Điều 367 Bộ luật Tố tụng Dân sự, Tòa án tiến hành phiên họp vắng mặt các đương sự.

Xem xét yêu cầu c a đương sự:

Trong thời gian tháng 10/2008, người lao động tên Bùi Thị D giao kết hợp đồng lao động với Công ty Cổ phần G và được Công ty Cổ phần G, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp với mã số bảo hiểm xã hội là 7408272045. Tuy nhiên, bà D và bà D1 đều th a nhận người ký hợp đồng lao động với Công ty Cổ phần G và thực tế làm việc tại Công ty T khoảng thời gian t tháng 10/2008 đến tháng 01/2011 là bà Bùi Thị D1 (do bà D cho bà D1 mượn chứng minh nhân dân).

Xét thấy, lời khai c a bà D, bà D1 phù hợp với xác nhận c a Bảo hiểm xã hội cơ sở D2. Bởi lẽ, trong khoảng thời gian tháng 10/2008 đến tháng 01/2011, bà D đang làm việc tại Công ty TNHH H (HSV) và tham gia bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp với mã số 9107059646. Như vậy, ch thể ký kết hợp đồng lao động với Công ty Cổ phần G trong khoảng thời gian tháng 10/2008 là bà Bùi Thị D1, không phải là bà Bùi Thị D. T đó, dẫn đến sự trùng lặp về khoảng thời gian tham gia bảo hiểm c a bà Bùi Thị D vào khoảng thời gian t tháng 10/2008 đến tháng 01/2011 giữa hợp đồng lao động được ký kết bởi bà Bùi Thị D (do bà Bùi Thị D1 là người trực tiếp ký kết) với Công ty Cổ phần G.

Theo Điều 9 c a Bộ luật Lao Động năm 1994, sửa đổi bổ sung năm 2002, năm 2006 và năm 2007 và khoản 1 Điều 15 c a Bộ luật Lao động năm 2019, quy định về nguyên tắc giao kết hợp đồng lao động: “Tự nguyện, bình đẳng, thiện chí, hợp tác và trung thực”. Theo quy định về nghĩa vụ cung cấp thông tin khi giao kết hợp đồng lao động tại khoản 2 Điều 19 c a Bộ luật Lao động năm 2012, thì: “Người lao động phải cung cấp thông tin cho người sử dụng lao động về họ tên, tuổi, giới tính, nơi cư trú, trình độ học vấn, trình độ kỹ năng nghề, tình trạng sức khoẻ và vấn đề khác liên quan trực tiếp đến việc giao kết hợp đồng lao động mà người sử dụng lao động yêu cầu” và khoản 2 Điều 16 c a Bộ luật Lao động năm 2019, thì: “Người lao động phải cung cấp thông tin trung thực cho người sử dụng lao động về họ tên, ngày tháng năm sinh, giới tính, nơi cư trú, trình độ học vấn, trình độ kỹ năng nghề, xác nhận tình trạng sức khỏe và vấn đề khác liên quan trực tiếp đến việc giao kết hợp đồng lao động mà người sử dụng lao động yêu cầu”. Theo quy định tại Điều 127, Điều 132 Bộ luật dân sự 2005, thì giao dịch dân sự sẽ bị vô hiệu và điểm b khoản 1 Điều 49 c a Bộ luật Lao động năm 2019, thì: “Người giao kết hợp đồng lao động không đúng thẩm quyền hoặc vi phạm nguyên tắc giao kết hợp đồng lao động quy định tại khoản 1 Điều 15 của Bộ luật này”. Theo hướng dẫn tại Công văn số 1767/LĐTBXH-BHXH ngày 31/5/2022 về việc người lao động mượn hồ sơ c a người khác để giao kết hợp đồng lao động c a Bộ L thì: “…Trường hợp người lao động mượn hồ sơ của người khác để giao kết hợp đồng lao động là hành vi vi vi phạm nguyên tắc “trung thực” theo quy định tại khoản 1 Điều 15 của Bộ luật Lao động và vi phạm nghĩa vụ cung cấp thông tin khi giao kết hợp đồng lao động theo quy định tại khoản 2 Điều 16 của Bộ luật Lao động. Căn cứ quy định tại điểm b khoản 1 Điều 49 của Bộ luật Lao động đây là trường hợp hợp đồng lao động vô hiệu toàn bộ…”. Do đó, có cơ sở xác định việc bà Bùi Thị D1 mượn hồ sơ cá nhân c a bà Bùi Thị D để giao kết hợp đồng lao động và tham gia bảo hiểm xã hội theo sổ BHXH là 7408272045 vào khoảng thời gian t tháng 10/2008 đến tháng 01/2011 tại Công ty Cổ phần G là hành vi vi phạm nguyên tắc “trung thực” và vi phạm nghĩa vụ cung cấp thông tin khi giao kết hợp đồng lao động, đây là trường hợp hợp đồng lao động vô hiệu toàn bộ.

T những nhận định trên, có căn cứ chấp nhận yêu cầu c a bà Bùi Thị D về việc yêu cầu tuyên bố hợp đồng lao động giữa bà Bùi Thị D với Công ty Cổ phần G theo sổ bảo hiểm xã hội số 7408272045 là vô hiệu.

Tại khoản 5 Điều 402 c a Bộ luật Tố tụng Dân sự quy định về xem xét yêu cầu tuyên bố hợp đồng lao động vô hiệu, thỏa ước lao động tập thể vô hiệu:“... Tòa án phải giải quyết hậu quả pháp lý của việc tuyên bố hợp đồng lao động vô hiệu", chấp nhận yêu cầu c a bà Bùi Thị D và ý kiến c a bà về việc xác định người lao động tại Công ty Cổ phần G trong giai đoạn tháng 10/2008 đến tháng 01/2011 là bà Bùi Thị D1, không phải là bà Bùi Thị D. Bà Bùi Thị D và bà Bùi Thị D1 có quyền liên hệ cơ quan bảo hiểm xã hội có thẩm quyền để cải chính thông tin tại Sổ bảo hiểm xã hội mã số 7408272045.

kiến c a đại diện Viện kiểm sát về nội dung việc lao động, các th tục tố tụng, quá trình tiến hành tố tụng cũng như di n biến tại phiên họp là phù hợp với quy định c a pháp luật.

Về lệ phí: bà Bùi Thị D phải chịu 300.000đ (ba trăm nghìn đồng).

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ khoản 1 Điều 33; điểm d khoản 2 Điều 35; điểm v khoản 2 Điều 39;Điều 146; Điều 149; Điều 361; Điều 366; Điều 367; Điều 370; Điều 371; Điều 372; Điều 401 và Điều 402 c a Bộ luật Tố tụng dân sự;

- Căn cứ Điều 127, 132 Bộ luật dân sự năm 2005;

- Căn cứ Điều 9 c a Bộ luật Lao động năm 1994, sửa đổi bổ sung năm 2002, năm 2006 và năm 2007;

- Căn cứ khoản khoản 2 Điều 19; Điều 51 và Điều 52 c a Bộ luật Lao động năm 2012;

- Căn cứ khoản 1 Điều 15; khoản 2 Điều 16; Điều 49; Điều 50 và Điều 51 c a Bộ luật Lao động năm 2019;

- Căn cứ Điều 37 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 c a y ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, mi n, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu giải quyết việc lao động c a bà Bùi Thị D.

- Tuyên bố hợp đồng lao động giữa bà Bùi Thị D với Công ty Cổ phần G (theo sổ bảo hiểm xã hội số 7408272045) bị vô hiệu.

- Xác định người lao động theo sổ bảo hiểm xã hội số 7408272045 không phải là bà Bùi Thị D, sinh năm 1988, giới tính: Nữ, quốc tịch: Việt Nam, căn cước công dân số xxxxxxxxxxxx. Bà Bùi Thị D và bà Bùi Thị D1 được quyền liên hệ với C có thẩm quyền để tiến hành th tục cải chính thông tin tại sổ bảo hiểm xã hội mã số 7408272045.

2. Lệ phí sơ thẩm giải quyết việc lao động: Bà Bùi Thị D phải chịu 300.000đ (ba trăm nghìn đồng), được khấu tr vào tiền tạm ứng đã nộp theo biên lai thu tamh ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0043866 ngày 28/11/2025 c a Thi hành án dân sự Thành phố Hồ Chí Minh.

3. Người yêu cầu, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo trong thời hạn 10 (mười) ngày, kể t ngày nhận được quyết định hoặc kể t ngày quyết định được thông báo, niêm yết. Viện kiểm sát cùng cấp có quyền kháng nghị quyết định giải quyết trong thời hạn 10 (mười) ngày, Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp có quyền kháng nghị trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể t ngày Tòa án ra quyết định.

Trường hợp Quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 c a Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ