- Tranh chấp gì? Yêu cầu tuyên bố hợp đồng lao động, thỏa ước lao động tập thể vô hiệu — án lao động — "Phan Thi D"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận toàn bộ yêu cầu giải quyết việc lao động của bà Phan Thị D.
- Căn cứ chính? Điều 146 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 149 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 15 Bộ luật Lao động
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 16 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH Số: 310/2025/QĐST-LĐ | TP. Hồ Chí Minh, ngày 17 tháng 12 năm 2025 |
QUYẾT ĐỊNH
SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC LAO ĐỘNG
V/v yêu cầu tuyên bố hợp đồng lao động vô hiệu
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 16 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Thành phần giải quyết việc lao động gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Ông Lê Sỹ Trứ
Thư ký phiên họp: Ông Bùi Xuân Dũng- Thư ký Tòa án.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 16 - Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên họp: Bà Bùi Thị Xuân Tình- Kiểm sát viên.
Ngày 17 tháng 12 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân khu vực 16 - Thành phố Hồ Chí Minh mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc lao động thụ lý số: 422/2025/TLST-LĐ ngày 26 tháng 11 năm 2025 về việc “Yêu cầu tuyên bố hợp đồng lao động vô hiệu” theo Quyết định mở phiên họp sơ thẩm giải quyết việc lao động số: 418/2025/QĐST-LĐ ngày 12 tháng 12 năm 2025, gồm những người tham gia tố tụng sau đây:
Người yêu cầu: Bà Phan Thị D, sinh năm 1989; thường trú: ấp M, phường N, thành phố Cần Thơ. Vắng mặt, có yêu cầu giải quyết vắng mặt.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.
1. Bà Nguyễn Thị Kim D1 sinh năm 1998, thường trú: ấp H, xã T, tỉnh An Giang. Vắng mặt, có yêu cầu giải quyết vắng mặt.
2. Công ty TNHH L; địa chỉ: đường T, khu phố H, phường T, Thành phố Hồ Chí Minh. Vắng mặt.
3. Bảo hiểm xã hội cơ sở Lái Thiêu - Thành phố H; địa chỉ: đưởng N, khu phố B, phường L, Thành phố Hồ Chí Minh. Vắng mặt, có yêu cầu giải quyết vắng mặt.
NỘI DUNG VIỆC LAO ĐỘNG:
- Theo đơn yêu cầu giải quyết việc lao động và lời khai trong quá trình giải quyết bà Phan Thị D trình bày:
Khoảng tháng 09 năm 2025, bà Phan Thị D đi làm thủ tục tại Bảo hiểm xã hội thì được biết bảo hiểm xã hội của bà Phan Thị D bị trùng trong khoảng thời gian từ tháng 09 năm 2008 đến tháng 01 năm 2010. Nguyên nhân bị trùng bảo hiểm xã hội là do vào khoảng tháng 09 năm 2008 bà Phan Thị D có cho người hàng xóm là bà Nguyễn Thị Kim D1 mượn chứng minh nhân dân để ký kết hợp đồng lao động với Công ty TNHH L, quá trình làm việc bà Nguyễn Thị Kim D1 được Công ty TNHH L tham gia bảo hiểm xã hội với mã số bảo hiểm là 7408203878. Vì thiếu hiểu biết, nghĩ rằng việc cho bà Nguyễn Thị Kim D1 mượn chứng minh nhân dân để ký kết hợp đồng lao động với Công ty TNHH L là không vi phạm gì và chỉ mong muốn cho bà Nguyễn Thị Kim D1 có công việc để trang trải cuộc sống. Vì vậy, bà Phan Thị D yêu cầu Tòa án tuyên bố hợp đồng lao động giữa bà Phan Thị D và Công ty TNHH L là vô hiệu. Bà Phan Thị D không yêu cầu Tòa án giải quyết hậu quả khi tuyên hợp đồng vô hiệu.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là bà Nguyễn Thị Kim D1 trình bày: Bà Nguyễn Thị Kim D1 và bà Phan Thị D có mối quan hệ là hàng xóm. Khoảng tháng 09 năm 2008, bà không có chứng minh nhân dân nên đã mượn chứng minh nhân dân của bà Phan Thị D để xin vào làm việc tại Công ty TNHH L và tham gia đóng bảo hiểm xã hội từ tháng 09 năm 2008 đến tháng 01 năm 2010 với số bảo hiểm xã hội là 7408203878. Nay bà Nguyễn Thị Kim D1 thống nhất toàn bộ yêu cầu của bà Phan Thị D và đề nghị Tòa án tuyên bố hợp đồng lao động giữa bà Phan Thị D với Công ty TNHH L vô hiệu. Sau khi kết thúc hợp đồng lao động với Công ty TNHH L thì bà chưa nhận trợ cấp bảo hiểm gì, bà cũng không yêu cầu gì liên quan đến bảo hiểm trong trường hợp Tòa án chấp nhận yêu cầu của bà Phan Thị D, bà D không yêu cầu giải quyết hậu quả của hợp đồng vô hiệu.
Công ty TNHH L trình bày: Công ty TNHH L trình bày đã được Tòa án thông báo và tống đạt các văn bản tố tụng để tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án theo đúng quy định tại các Điều 178; Điều 366; Điều 367; Điều 369 và Bộ luật Tố tụng dân sự. Tuy nhiên Công ty TNHH L trình bày đều vắng mặt không rõ lý do.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Bảo hiểm xã hội cơ sở L (viết tắt là BHXH) trình bày tại Công văn số 807/BHXH-KT ngày 28/12/2025 và Công văn số 811/BHXH-QLT ngày 29/9/2025:
Qua kiểm tra đối chiếu dữ liệu tham gia BHXH của Công ty TNHH L cho người lao động thì Công ty có tham gia BHXH, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp, bảo hiểm tai nạn lao động – bệnh nghề nghiệp cho bà Phan Thị D, sinh năm 1989, số chứng minh nhân dân xxxxxxxxx, số CCCD xxxxxxxxxxxx, với mã số BHXH 7408203878 có quá trình tham gia BHXH từ tháng 09 năm 2008 đến tháng 01 năm 2010 tại Công ty TNHH L đã hưởng chế độ BHXH một lần, chưa hưởng bảo hiểm thất nghiệp. Bảo hiểm xã hội cơ sở Lái Thiêu đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.
- Tại phiên họp, đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 16 – Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu ý kiến về việc giải quyết việc lao động và đề nghị: Quá trình tố tụng, Thẩm phán, Thư ký phiên họp và đương sự đã chấp hành theo đúng quy định của pháp luật. Về nội dung: Xét thấy, yêu cầu của bà Phan Thị D là có căn cứ, đề nghị Tòa án xem xét chấp nhận.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về thủ tục tố tụng: Người yêu cầu bà Phan Thị D; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị Kim D1; Bảo hiểm xã hội cơ sở L có yêu cầu giải quyết vắng mặt. Công ty TNHH L vắng mặt không rõ lý do. Căn cứ Điều 367 Bộ luật Tố tụng Dân sự, Tòa án tiến hành phiên họp vắng mặt các đương sự.
Xem xét yêu cầu của đương sự:
Trong thời gian từ tháng 09 năm 2008 đến tháng 01 năm 2010, người lao động tên Phan Thị D giao kết hợp đồng lao động với Công ty TNHH L và được Công ty TNHH L tham gia bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp với mã số bảo hiểm xã hội là 7408203878. Tuy nhiên, bà Phan Thị D và bà Nguyễn Thị Kim D1 đều thừa nhận người ký hợp đồng lao động với Công ty TNHH L và thực tế làm việc tại công ty T khoảng thời gian từ tháng 09 năm 2008 đến tháng 01 năm 2010 là bà Nguyễn Thị Kim D1 (do bà Phan Thị D cho bà Nguyễn Thị Kim D1 mượn chứng minh nhân dân).
Xét thấy, lời khai của bà Phan Thị D, bà Nguyễn Thị Kim D1 và Công ty TNHH L phù hợp với xác nhận của Bảo hiểm xã hội cơ sở Lái Thiêu. Bởi lẽ, trong khoảng thời gian từ tháng 02 năm 2009 đến tháng 05 năm 2010, bà Phan Thị D đang làm việc tại Công ty TNHH C, tham gia bảo hiểm xã hội mã số 7409133648. Như vậy, chủ thể ký kết hợp đồng lao động với Công ty TNHH L trong khoảng thời gian từ tháng 09 năm 2008 đến tháng 01 năm 2010 là bà Nguyễn Thị Kim D1, không phải là bà Phan Thị D .
Theo khoản 1 Điều 15 của Bộ luật Lao động năm 2019, quy định về nguyên tắc giao kết hợp đồng lao động: “Tự nguyện, bình đẳng, thiện chí, hợp tác và trung thực”. Theo quy định về nghĩa vụ cung cấp thông tin khi giao kết hợp đồng lao động tại khoản 2 Điều 16 của Bộ luật Lao động năm 2019, thì: “Người lao động phải cung cấp thông tin trung thực cho người sử dụng lao động về họ tên, ngày tháng năm sinh, giới tính, nơi cư trú, trình độ học vấn, trình độ kỹ năng nghề, xác nhận tình trạng sức khỏe và vấn đề khác liên quan trực tiếp đến việc giao kết hợp đồng lao động mà người sử dụng lao động yêu cầu”. Theo quy định về hợp đồng lao động vô hiệu tại điểm b khoản 1 Điều 49 của Bộ luật Lao động năm 2019, thì: “Người giao kết hợp đồng lao động không đúng thẩm quyền hoặc vi phạm nguyên tắc giao kết hợp đồng lao động quy định tại khoản 1 Điều 15 của Bộ luật này”. Theo hướng dẫn tại Công văn số 1767/LĐTBXH-BHXH ngày 31/5/2022 về việc người lao động mượn hồ sơ của người khác để giao kết hợp đồng lao động của Bộ L1 thì: “…Trường hợp người lao động mượn hồ sơ của người khác để giao kết hợp đồng lao động là hành vi vi phạm nguyên tắc “trung thực” theo quy định tại khoản 1 Điều 15 của Bộ luật Lao động và vi phạm nghĩa vụ cung cấp thông tin khi giao kết hợp đồng lao động theo quy định tại khoản 2 Điều 16 của Bộ luật Lao động. Căn cứ quy định tại điểm b khoản 1 Điều 49 của Bộ luật Lao động đây là trường hợp hợp đồng lao động vô hiệu toàn bộ…”. Do đó, có cơ sở xác định việc bà Nguyễn Thị Kim D1 mượn hồ sơ cá nhân của bà Phan Thị D để giao kết hợp đồng lao động và tham gia bảo hiểm xã hội theo sổ BHXH số 7408203878 từ tháng 09 năm 2008 đến tháng 01 năm 2010 tại Công ty TNHH L là hành vi vi phạm nguyên tắc “trung thực” và vi phạm nghĩa vụ cung cấp thông tin khi giao kết hợp đồng lao động, đây là trường hợp hợp đồng lao động vô hiệu toàn bộ.
Từ những nhận định trên, có căn cứ chấp nhận yêu cầu bà Phan Thị D về việc yêu cầu tuyên bố hợp đồng lao động giữa bà Phan Thị D với Công ty TNHH L theo sổ bảo hiểm xã hội số 7408203878 bị vô hiệu.
Tại khoản 5 Điều 402 của Bộ luật Tố tụng Dân sự quy định về xem xét yêu cầu tuyên bố hợp đồng lao động vô hiệu, thỏa ước lao động tập thể vô hiệu:“... Tòa án phải giải quyết hậu quả pháp lý của việc tuyên bố hợp đồng lao động vô hiệu", chấp nhận yêu cầu của bà Phan Thị D và ý kiến của bà Phan Thị D về việc xác định người lao động tại Công ty TNHH L trong giai đoạn từ tháng 09 năm 2008 đến tháng 01 năm 2010 là bà Nguyễn Thị Kim D1, không phải là bà Phan Thị D. Bà Phan Thị D và bà Nguyễn Thị Kim D1 có quyền liên hệ cơ quan bảo hiểm xã hội có thẩm quyền để cải chính thông tin tại Sổ bảo hiểm xã hội mã số 7408203878.
Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát về nội dung việc lao động, các thủ tục tố tụng, quá trình tiến hành tố tụng cũng như diễn biến tại phiên họp là phù hợp với quy định của pháp luật.
Về lệ phí: Bà Phan Thị D phải chịu 300.000đồng (ba trăm nghìn đồng).
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ khoản 1 Điều 33; điểm d khoản 2 Điều 35; điểm v khoản 2 Điều 39; Điều 146; Điều 149; Điều 361; Điều 366; Điều 367; Điều 370; Điều 371; Điều 372; Điều 401 và Điều 402 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
- Căn cứ khoản 1 Điều 17; khoản 2 Điều 19; Điều 50; Điều 51 và Điều 52 của Bộ luật Lao động năm 2012;
- Căn cứ khoản 1 Điều 15; khoản 2 Điều 16; Điều 49; Điều 50 và Điều 51 của Bộ luật Lao động năm 2019;
- Căn cứ Điều 37 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu giải quyết việc lao động của bà Phan Thị D.
- Tuyên bố hợp đồng lao động giữa bà Phan Thị D với Công ty TNHH L (theo số bảo hiểm xã hội số 7408203878) bị vô hiệu.
- Xác định người lao động theo sổ bảo hiểm xã hội số 7408203878 không phải bà Phan Thị D, sinh năm 1989, giới tính: Nữ, quốc tịch: Việt Nam, số chứng minh nhân dân xxxxxxxxx, số CCCD xxxxxxxxxxxx.
Bà Phan Thị D và bà Nguyễn Thị Kim D1 được quyền liên hệ với C1 có thẩm quyền để tiến hành thủ tục cải chính thông tin tại sổ bảo hiểm xã hội mã số 7408203878.
2. Lệ phí sơ thẩm giải quyết việc lao động: Bà Phan Thị D phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng, được khấu trừ tiền tạm ứng đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí số 0038691 ngày 17/11/2025 của Thi hành án Dân sự Thành phố Hồ Chí Minh.
3. Người yêu cầu, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo trong thời hạn 10 (mười) ngày, kể từ ngày nhận được quyết định hoặc kể từ ngày quyết định được thông báo, niêm yết. Viện kiểm sát cùng cấp có quyền kháng nghị quyết định giải quyết trong thời hạn 10 (mười) ngày, Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp có quyền kháng nghị trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày Tòa án ra quyết định.
Trường hợp Quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND Thành phố Hồ Chí Minh; - VKSND Khu vực 16 - Thành phố Hồ Chí Minh; - Phòng THADS khu vực 16 – Thành phố Hồ Chí Minh; - Các đương sự; - Lưu: HS. | THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN HỌP Lê Sỹ Trứ |