- Tranh chấp gì? Yêu cầu tuyên bố hợp đồng lao động, thỏa ước lao động tập thể vô hiệu — án lao động — "Anh N. V. H yêu cầu tuyên bố hợp đồng lao động vô hiệu"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận toàn bộ yêu cầu giải quyết việc lao động của anh N. V. H.
- Căn cứ chính? Điều 367 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 15 Bộ luật lao động và Nghị; Điều 16 Bộ luật lao động và Nghị
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ TRẢNG BÀNG TỈNH TÂY NINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 30/2024/QĐST-LĐ | Trảng Bàng, ngày 19 tháng 6 năm 2024 |
QUYẾT ĐỊNH
SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ
Về việc “Yêu cầu tuyên bố hợp đồng lao động vô hiệu”
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ TRẢNG BÀNG, TỈNH TÂY NINH
Thành phần giải quyết việc dân sự gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Bà Phạm Thị Yến.
Thư ký phiên họp: Bà Bùi Thị Hạnh - Thư ký Toà án nhân dân thị xã Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Trảng Bàng tham gia phiên họp: Ông Võ Trường Thọ - Kiểm sát viên.
Ngày 19 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc lao động thụ lý số: 27/2023/TLST-VLĐ ngày 18 tháng 12 năm 2023 về việc “Yêu cầu tuyên bố hợp đồng lao động vô hiệu”, theo Quyết định mở phiên họp số 24/2024/QĐST-LĐ ngày 05 tháng 6 năm 2024, gồm những người tham gia tố tụng sau:
Người yêu cầu giải quyết việc dân sự: Anh N. V. H, sinh năm 1989; địa chỉ: Khu phố X 1, phường Y, thị xã Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh (có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt).
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Công ty TNHH K. M; địa chỉ: Đường số 5, Khu Công nghiệp Trảng Bàng, phường An Tịnh, thị xã Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh.
Người đại diện theo pháp luật: ông W. M. C, chức danh: Chủ tịch kiêm Tổng giám đốc (vắng mặt).
2. Bảo hiểm xã hội tỉnh Tây Ninh; địa chỉ: 233 đường Nguyễn Chí Thanh, Khu phố 5, Phường 3, thành phố Tây Ninh, tỉnh Tây Ninh.
Người đại diện theo pháp luật: ông N. V. H, chức vụ: Tổng giám đốc Bảo hiểm xã hội tỉnh Tây Ninh.
Người đại diện theo ủy quyền: bà KL. T. H. T, chức vụ: Giám đốc Bảo hiểm xã hội thị xã Trảng Bàng (có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt).
3. Anh T. H. H1, sinh năm 1990; địa chỉ: khu phố X 1, phường Y, thị xã Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh (có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt).
NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ:
Trong quá trình giải quyết việc lao động, người yêu cầu – anh N. V. H trình bày:
Anh và anh H1 là anh em cô cậu. Năm 2007, anh có cho anh T. H. H1 mượn Chứng minh nhân dân của anh để làm việc tại Công ty TNHH K. M trong khoảng thời gian từ tháng 10/2007 đến tháng 7/2010 nên giữa Công ty TNHH K. M và anh T. H. H1 đã ký kết hợp đồng lao động với tên của anh Hoàng là N. V. H. Tại đây, Công ty TNHH K. M đã tham gia bảo hiểm xã hội cho anh T. H. H1 (dưới tên N. V. H) thời gian từ tháng 10/2007 đến tháng 7/2010 với số sổ bảo hiểm là 7208008355. Anh Huynh đã lãnh chế độ bảo hiểm một lần vào ngày 15/11/2011 được số tiền 5.379.043 đồng.
Tháng 02/2010, anh H ký hợp đồng lao động và làm việc tại Công ty TNHH VPP cho đến tháng 9/2013 thì nghỉ việc. Trong thời gian làm việc tại Công ty TNHH VPP, anh H được Công ty tham gia bảo hiểm xã hội và được cấp sổ bảo hiểm xã hội số 7210002750.
Tháng 02/2014, anh H làm việc tại Công ty TNHH Sailun Việt Nam cho đến tháng 5/2022 thì nghỉ.
Tháng 7/2023, anh H làm thủ tục lãnh bảo hiểm xã hội một lần thì không rút được do bị trùng thời gian đóng bảo hiểm xã hội từ tháng 02/2010 đến tháng 7/2010 dưới cùng một tên là N. V. H.
Vì vậy, nay anh H yêu cầu Tòa án tuyên bố tuyên bố hợp đồng lao động được ký kết giữa Công ty TNHH K. M với anh T. H. H1 đứng dưới tên N. V. H là vô hiệu, mục đích để lãnh chế độ bảo hiểm xã hội.
Trong quá trình giải quyết việc lao động, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan - Công ty TNHH K. M đã được Tòa án gửi Thông báo thụ lý, gửi Công văn yêu cầu tham gia tố tụng và gửi giấy triệu tập đến Tòa án làm việc để ghi ý kiến cũng như triệu tập tham gia phiên họp nhưng vẫn vắng mặt không có lý do và không có văn bản trình bày ý kiến đối vối yêu cầu của anh N. V. H.
Trong quá trình giải quyết việc lao động, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan anh T. H. H1 trình bày:
Anh và anh N. V. H là anh em cô cậu. Do chưa đủ tuổi nên năm 2007 anh có mượn giấy chứng minh nhân dân của anh Hoàng để đi làm tại Công ty TNHH K. M. Anh làm việc tại Công ty TNHH K. M từ tháng 10/2007 đến tháng 7/2010 thì nghỉ và được công ty tham gia bảo hiểm xã hội với số sổ bảo hiểm xã hội là 7208008355.
Nay anh đồng ý tuyên bố hợp đồng lao động được ký kết giữa anh đứng dưới tên N. V. H với Công ty TNHH K. M là vô hiệu để anh Hoàng được lãnh tiền bảo hiểm xã hội theo quy định.
Người đại diện theo ủy quyền của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là Bảo hiểm xã hội tỉnh Tây Ninh - bà KL. T. H. T có văn bản trình bày:
Kiến nghị Tòa án Nhân dân thị xã Trảng Bàng xem xét tuyên bố hợp đồng lao động giữa anh N. V. H và Công ty TNHH K. M vô hiệu.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Trảng Bàng phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng và việc giải quyết yêu cầu:
- Việc chấp hành pháp luật tố tụng: Thẩm phán thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn theo đúng quy định tại Điều 48 Bộ luật tố tụng dân sự và đã thực hiện đúng, đầy đủ quy định của Bộ luật tố tụng dân sự về việc giải quyết việc lao động. Người tham gia tố tụng đã thực hiện đúng, đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định của pháp luật.
- Về việc giải quyết vụ án: Căn cứ các điều 15, 16, 49 Bộ luật lao động và Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Đề nghị Hội đồng giải quyết việc lao động xem xét quyết định:
1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu giải quyết việc lao động của anh N. V. H. Tuyên bố hợp đồng lao động giữa anh N. V. H, sinh năm 1989; địa chỉ: Khu phố X 1, phường Y, thị xã Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh và Công ty TNHH K. M là vô hiệu.
2. Anh H phải chịu lệ phí sơ thẩm giải quyết việc lao động theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp; ý kiến của các đương sự và đại diện Viện kiểm sát tại phiên họp, Tòa án nhân dân thị xã Trảng Bàng nhận định:
Về thủ tục tố tụng:
Anh N. V. H yêu cầu tuyên bố hợp đồng lao động giữa anh T. H. H1 đứng dưới tên N. V. H và Công ty TNHH K. M vô hiệu. Đây là yêu cầu về lao động thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại khoản 1 Điều 33 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Hợp đồng lao động được giao kết và thực hiện tại Công ty TNHH K. M có trụ sở tại Đường số 5, Khu công nghiệp Trảng Bàng, phường An Tịnh, thị xã Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã Trảng Bàng theo điểm v khoản 2 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Người yêu cầu và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan gồm anh T. H. H1 và người đại diện theo ủy quyền của Bảo hiểm xã hội tỉnh Tây Ninh vắng mặt tại phiên họp nhưng đã có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt. Người đại diện theo pháp luật của Công ty TNHH K. M đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt không có lý do. Căn cứ khoản 2, khoản 3 Điều 367 Bộ luật Tố tụng dân sự, tòa án tiến hành mở phiên họp vắng mặt các đương sự trên là phù hợp.
Xét yêu cầu tuyên bố hợp đồng lao động được ký kết giữa Công ty TNHH K. M với anh T. H. H1 đứng dưới tên N. V. H là vô hiệu thấy rằng: anh T. H. H1 và anh N. V. H đều thống nhất trình bày, trong khoảng thời gian từ tháng 10/2007 đến tháng 7/2010 anh H1 có mượn chứng minh nhân dân của anh H để làm việc tại Công ty TNHH K. M và được công ty đóng bảo hiểm xã hội cho anh H1 dưới tên N. V. H từ tháng 10/2007 đến tháng 7/2010 với số sổ bảo hiểm xã hội là 7208008355.
Trong khi đó, tháng 02/2010, anh H làm việc tại Công ty TNHH VPP và được Công ty tham gia bảo hiểm từ tháng 02/2010 đến tháng 9/2013 và được cấp sổ bảo hiểm số 7210002750.
Như vậy, việc anh H1 mượn chứng minh nhân dân của anh N. V. H để làm việc tại Công ty TNHH K. M là có thật và việc anh H1 mượn chứng minh nhân dân và sử dụng thông tin cá nhân của anh N. V. H để giao kết hợp đồng lao động với Công ty TNHH K. M là gian dối. Hành vi trên là vi phạm nguyên tắc “Trung thực”, vi phạm nghĩa vụ cung cấp thông tin khi giao kết hợp đồng lao động theo quy định tại khoản 1 Điều 15 và khoản 2 Điều 16 của Bộ luật lao động nên hợp đồng lao động vô hiệu theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 49 của Bộ luật lao động.
Quá trình làm việc, Bảo hiểm xã hội Trảng Bàng đã cung cấp thông tin về thời gian đóng bảo hiểm xã hội của anh N. V. H với số bảo hiểm xã hội là 7210002750 và qua đối chiếu bản Danh sách cá nhân hưởng một lần của người lao động tên N. V. H có mã số bảo hiểm xã hội là 7208008355 có quá trình đóng bảo hiểm xã hội tại Công ty TNHH K. M từ tháng 10/2007 đến tháng 7/2010; căn cứ Sổ Bảo hiểm xã hội số 7210002750 của anh N. V. H tại Công ty TNHH VPP thể hiện thời gian đóng bảo hiểm xã hội bị trùng từ tháng 02/2010 đến tháng 7/2010. Do đó, nay anh N. V. H yêu cầu tuyên bố hợp đồng lao động được ký kết giữa Công ty TNHH K. M với anh T. H. H1 (do sử dụng thông tin của anh N. V. H để giao kết hợp đồng) là có cơ sở chấp nhận.
Các bên có quyền và nghĩa vụ liên hệ cơ quan có thẩm quyền để thực hiện các thủ tục liên quan đến bảo hiểm theo quy định của pháp luật.
Về lệ phí: Anh N. V. H phải chịu lệ phí sơ thẩm yêu cầu giải quyết việc dân sự theo quy định tại khoản 1 Điều 37 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Ý kiến và đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Trảng Bàng tại phiên họp phù hợp với nhận định của Tòa án nên chấp nhận.
Từ các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ các điều 149, 367, 401, 402 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ các điều 15, 16, 49, 50, 51 của Bộ luật Lao động;
Căn cứ Điều 37 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội;
1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu giải quyết việc lao động của anh N. V. H.
Tuyên bố hợp đồng lao động giữa anh N. V. H, sinh năm 1989; địa chỉ: Khu phố X 1, phường Y, thị xã Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh (do anh T. H. H1 ký kết) với Công ty TNHH K. M có số sổ bảo hiểm xã hội là 7208008355 là vô hiệu.
Các bên có quyền và nghĩa vụ liên hệ cơ quan có thẩm quyền để thực hiện các thủ tục liên quan đến bảo hiểm theo quy định của pháp luật.
2. Lệ phí sơ thẩm giải quyết việc lao động: Anh N. V. H phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng lệ phí anh H đã nộp là 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng theo Biên lai vũ tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0015143 ngày 13 tháng 12 năm 2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh, ghi nhận anh H đã nộp xong lệ phí.
3. Quyền kháng cáo, kháng nghị:
Người yêu cầu và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo quyết định này trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày nhận được quyết định giải quyết việc dân sự hoặc kể từ ngày quyết định được thông báo, niêm yết.
Viện kiểm sát nhân dân thị xã Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh có quyền kháng nghị quyết định giải quyết việc dân sự trong thời hạn 10 ngày, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh được quyền kháng nghị trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày Tòa án ra quyết định.
4. Trong trường hợp quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả vũận thi hành, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Tây Ninh; - VKSND thị xã Trảng Bàng; - CCTHA thị xã Trảng Bàng; - Các đương sự; - Lưu. | THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN HỌP (Đã ký) Phạm Thị Yến |