vanban.org

Quyết định 295/2025/QĐST-VLĐ — Yêu cầu tuyên bố hợp đồng lao động, thỏa ước lao động tập thể vô hiệu

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận toàn bộ yêu cầu giải quyết việc lao động của bà Bùi Thị Hoa Q.

Tuyên bố hợp đồng lao động giữa bà Bùi Thị Hoa Q với Công ty TNHH S (theo sổ bảo hiểm xã hội số 7408111991) bị vô hiệu. Xác định người lao động theo sổ bảo hiểm xã hội số 7408111991 không phải là bà Bùi Thị Hoa Q, sinh năm 1990, giới tính: Nữ, quốc tịch: Việt Nam, căn cước công dân số: xxxxxxxxxxxx.… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Yêu cầu tuyên bố hợp đồng lao động, thỏa ước lao động tập thể vô hiệu — án lao động — "Người yêu cầu: Bà Bùi Thị Hoa Q"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận toàn bộ yêu cầu giải quyết việc lao động của bà Bùi Thị Hoa Q.
  • Căn cứ chính? Điều 146 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 149 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 15 Bộ luật Lao động
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 16 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Số: 295/2025/QĐST-VLĐ
TP. Hồ Chí Minh, ngày 08 tháng 12 năm 2025

QUYẾT ĐỊNH

SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC LAO ĐỘNG

V/v yêu cầu tuyên bố hợp đồng lao động vô hiệu

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 16 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Thành phần giải quyết việc lao động gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Bà Đào Thị Thu Vân

Thư ký phiên họp: Ông Thái Vương Triều - Thư ký Tòa án.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 16 - Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên họp: Nguyễn Thuý An - Kiểm sát viên.

Ngày 08 tháng 12 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân khu vực 16 - Thành phố Hồ Chí Minh mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc lao động thụ lý số: 421/2025/TLST-VLĐ ngày 26 tháng 11 năm 2025 về việc “Yêu cầu tuyên bố hợp đồng lao động vô hiệu” theo Quyết định mở phiên họp sơ thẩm giải quyết việc lao động số: 92/2025/QĐST-LĐ ngày 28 tháng 11 năm 2025, gồm những người tham gia tố tụng sau đây:

- Người yêu cầu: Bà Bùi Thị Hoa Q, sinh năm 1990; nơi thường trú tại: Xóm G, xã Đ, tỉnh Nghệ An. Có yêu cầu giải quyết vắng mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. Bà Bùi Thị D, sinh năm 1993; nơi thường trú: Xóm T, xã G, tỉnh Ninh Bình; nơi tạm trú: 14 DC B, Tổ E, khu phố B, phường A, Thành phố Hồ Chí Minh. Có yêu cầu giải quyết vắng mặt;

2. Công ty TNHH S; địa chỉ: A, khu phố B, phường T, Thành phố Hồ Chí Minh.

Người đại diện hợp pháp của Công ty: Ông Yu Shin H – chức vụ: Chủ tịch kiêm tổng giám đốc, là người đại diện theo pháp luật. Có yêu cầu giải quyết vắng mặt.

3. Bảo hiểm xã hội cơ sở L; địa chỉ: Đường N, phường L, Thành phố Hồ Chí Minh. Có yêu cầu giải quyết vắng mặt.

NỘI DUNG VIỆC LAO ĐỘNG:

- Theo đơn yêu cầu giải quyết việc lao động và lời khai trong quá trình giải quyết bà Bùi Thị Hoa Q trình bày:

Trong khoảng thời gian từ tháng 10/2010 đến tháng 4/2011, bà Bùi Thị Hoa Q làm việc tại Công ty TNHH P, địa chỉ: ấp A, xã A, huyện T, tỉnh Bình Dương và tham gia bảo hiểm xã hội với mã số: 7410301134. Nay, bà Q đi làm thủ tục tại Bảo hiểm xã hội thì được biết bảo hiểm xã hội của bà bị trùng trong khoảng thời gian từ tháng 12/2010 đến 01/2011. Nguyên nhân bị trùng bảo hiểm xã hội là do bà Q cho em gái là bà Bùi Thị D mượn chứng minh nhân dân để làm việc tại Công ty TNHH S. Quá trình làm việc, bà D được Công ty TNHH S tham gia bảo hiểm xã hội với mã số sổ bảo hiểm là 7408111991. Vì thiếu hiểu biết, nghĩ rằng việc cho bà D mượn chứng minh nhân dân để ký kết hợp đồng lao động với Công ty TNHH S là không vi phạm gì và chỉ mong muốn cho bà D có công việc để trang trải cuộc sống. Chính vì vậy, bà Q yêu cầu Tòa án tuyên bố hợp đồng lao động giữa Bùi Thị Hoa Q (do Bùi Thị D ký thay) với Công ty TNHH S là vô hiệu. Bà Q không yêu cầu Tòa án giải quyết hậu quả khi tuyên hợp đồng vô hiệu.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Bùi Thị D trình bày: Bà D và bà Q là hai chị em ruột. Khoảng tháng 12/2010, bà D chưa đủ tuổi lao động, không có chứng minh nhân dân nên đã mượn chứng minh nhân dân của bà Q để xin vào làm việc tại Công ty TNHH S và tham gia đóng bảo hiểm xã hội từ tháng 12/2010 đến 01/2011 với số sổ bảo hiểm xã hội là 7408111991. Nay bà D thống nhất toàn bộ yêu cầu của bà Q và đề nghị Tòa án tuyên bố hợp đồng lao động giữa Bùi Thị Hoa Q (do Bùi Thị D ký thay) với Công ty TNHH S vô hiệu. Bà D không yêu cầu giải quyết hậu quả của hợp đồng vô hiệu.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan của Công ty TNHH S do ông Yu Shin H trình bày: Công ty đã nhận được giấy triệu tập tham gia phiên họp giải quyết việc lao động theo yêu cầu của bà Bùi Thị Hoa Q. Tuy nhiên, do sức khoẻ nên ông Yu Shin H không thể trực tiếp tham gia phiên họp được và có yêu cầu giải quyết vắng mặt. Đề nghị Toà án giải quyết vụ việc theo quy định của pháp luật.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Bảo hiểm xã hội cơ sở L (viết tắt là BHXH) trình bày: Qua kiểm tra đối chiếu dữ liệu tham gia BHXH, bảo hiểm y tế (BHYT), bảo hiểm thất nghiệp (BHTN) của Công ty TNHH S cho người lao động thì Công ty có tham gia BHXH, BHYT, BHTN cho bà Bùi Thị Hoa Q sinh năm 1990, số CMND xxxxxxxxx, với mã số BHXH 7408111991 có quá trình tham gia BHXH, BHYT, BHTN từ tháng 12/2010 đến tháng 01/2011 tại Công ty TNHH S chưa nhận trợ cấp BHXH một lần. Ngoài ra qua tra cứu dữ liệu, BHXH cơ sở Lái Thiêu còn phát hiện bà Bùi Thị Hoa Q còn có mã số BHXH 7410301134 từ tháng 10/2010 đến tháng 04/2011 tại Công ty TNHH P. Về các yêu cầu khác của bà Bùi Thị Hoa Q không có ý kiến.

- Tại phiên họp, đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 16 - Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu ý kiến về việc giải quyết việc lao động và đề nghị: Quá trình tố tụng, Thẩm phán, Thư ký phiên họp và đương sự đã chấp hành theo đúng quy định của pháp luật. Về nội dung: Xét thấy, yêu cầu của bà Bùi Thị Hoa Q là có căn cứ, đề nghị Tòa án xem xét chấp nhận.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về thủ tục tố tụng: Người yêu cầu bà Bùi Thị Hoa Q; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Bùi Thị D; người đại diện hợp pháp của Công ty TNHH S và người đại diện theo ủy quyền của Bảo hiểm xã hội cơ sở L, tất cả đều có yêu cầu giải quyết vắng mặt. Căn cứ Điều 367 Bộ luật Tố tụng Dân sự, Tòa án tiến hành phiên họp vắng mặt các đương sự.

Xem xét yêu cầu của đương sự:

Trong thời gian từ tháng 12/2010 đến tháng 01/2011, người lao động tên Bùi Thị Hoa Q giao kết hợp đồng lao động với Công ty TNHH S và được Công ty TNHH S, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp với mã số bảo hiểm xã hội là 7408111991. Tuy nhiên, bà Q và bà D đều thừa nhận người ký hợp đồng lao động với Công ty TNHH S và thực tế làm việc tại công ty T khoảng thời gian từ tháng 12/2010 đến tháng 01/2010 là bà Bùi Thị D (do bà Q cho bà D mượn chứng minh nhân dân).

Xét thấy, lời trình bày của bà Q, bà D phù hợp với xác nhận của Bảo hiểm xã hội cơ sở Lái Thiêu là trong khoảng thời gian từ tháng 12/2010 đến tháng 01/2011, bà Q đang làm việc tại Công ty TNHH P và tham gia bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp với mã số 7410301134. Như vậy, chủ thể ký kết hợp đồng lao động với Công ty TNHH S trong khoảng thời gian tháng 12/2010 đến tháng 01/2010 là bà Bùi Thị D, không phải là bà Bùi Thị Hoa Q.

Theo khoản 1 Điều 17 của Bộ luật Lao động năm 2012 và khoản 1 Điều 15 của Bộ luật Lao động năm 2019, quy định về nguyên tắc giao kết hợp đồng lao động: “Tự nguyện, bình đẳng, thiện chí, hợp tác và trung thực”. Theo quy định về nghĩa vụ cung cấp thông tin khi giao kết hợp đồng lao động tại khoản 2 Điều 19 của Bộ luật Lao động năm 2012, thì: “Người lao động phải cung cấp thông tin cho người sử dụng lao động về họ tên, tuổi, giới tính, nơi cư trú, trình độ học vấn, trình độ kỹ năng nghề, tình trạng sức khoẻ và vấn đề khác liên quan trực tiếp đến việc giao kết hợp đồng lao động mà người sử dụng lao động yêu cầu” và khoản 2 Điều 16 của Bộ luật Lao động năm 2019, thì: “Người lao động phải cung cấp thông tin trung thực cho người sử dụng lao động về họ tên, ngày tháng năm sinh, giới tính, nơi cư trú, trình độ học vấn, trình độ kỹ năng nghề, xác nhận tình trạng sức khỏe và vấn đề khác liên quan trực tiếp đến việc giao kết hợp đồng lao động mà người sử dụng lao động yêu cầu”. Theo quy định về hợp đồng lao động vô hiệu tại điểm b khoản 1 Điều 50 của Bộ luật Lao động năm 2012, thì: “Người ký kết hợp đồng lao động không đúng thẩm quyền” và điểm b khoản 1 Điều 49 của Bộ luật Lao động năm 2019, thì: “Người giao kết hợp đồng lao động không đúng thẩm quyền hoặc vi phạm nguyên tắc giao kết hợp đồng lao động quy định tại khoản 1 Điều 15 của Bộ luật này”. Theo hướng dẫn tại Công văn số 1767/LĐTBXH-BHXH ngày 31/5/2022 về việc người lao động mượn hồ sơ của người khác để giao kết hợp đồng lao động của Bộ L1 thì: “…Trường hợp người lao động mượn hồ sơ của người khác để giao kết hợp đồng lao động là hành vi vi phạm nguyên tắc “trung thực” theo quy định tại khoản 1 Điều 15 của Bộ luật Lao động và vi phạm nghĩa vụ cung cấp thông tin khi giao kết hợp đồng lao động theo quy định tại khoản 2 Điều 16 của Bộ luật Lao động. Căn cứ quy định tại điểm b khoản 1 Điều 49 của Bộ luật Lao động đây là trường hợp hợp đồng lao động vô hiệu toàn bộ…”. Do đó, có cơ sở xác định việc bà D mượn hồ sơ cá nhân của bà Q để giao kết hợp đồng lao động và tham gia bảo hiểm xã hội theo sổ BHXH số 7408111991 từ tháng 12/2010 đến tháng 01/2011 tại Công ty TNHH S là hành vi vi phạm nguyên tắc “trung thực” và vi phạm nghĩa vụ cung cấp thông tin khi giao kết hợp đồng lao động, đây là trường hợp hợp đồng lao động vô hiệu toàn bộ.

Từ những nhận định trên, có căn cứ chấp nhận yêu cầu của bà Bùi Thị Hoa Q về việc yêu cầu tuyên bố hợp đồng lao động giữa bà Bùi Thị Hoa Q (do Bùi Thị D ký thay) với Công ty TNHH S theo sổ bảo hiểm xã hội số 7408111991 bị vô hiệu.

Tại khoản 5 Điều 402 của Bộ luật Tố tụng dân sự quy định về xem xét yêu cầu tuyên bố hợp đồng lao động vô hiệu, thỏa ước lao động tập thể vô hiệu:“... Tòa án phải giải quyết hậu quả pháp lý của việc tuyên bố hợp đồng lao động vô hiệu", chấp nhận yêu cầu của bà Q, bà D không yêu cầu Toà án giải quyết hậu quả của hợp đồng lao động vô hiệu. Bà Q và bà D có quyền liên hệ cơ quan bảo hiểm xã hội có thẩm quyền để cải chính thông tin tại Sổ bảo hiểm xã hội mã số 7408111991.

Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát về nội dung việc lao động, các thủ tục tố tụng, quá trình tiến hành tố tụng cũng như diễn biến tại phiên họp là phù hợp với quy định của pháp luật.

Về lệ phí: Bà Bùi Thị Hoa Q phải chịu.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ khoản 1 Điều 33; điểm d khoản 2 Điều 35; điểm v khoản 2 Điều 39;Điều 146; Điều 149; Điều 361; Điều 366; Điều 367; Điều 370; Điều 371; Điều 372; Điều 401 và Điều 402 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

- Căn cứ khoản 1 Điều 17; khoản 2 Điều 19; Điều 50; Điều 51 và Điều 52 của Bộ luật Lao động năm 2012;

- Căn cứ khoản 1 Điều 15; khoản 2 Điều 16; Điều 49; Điều 50 và Điều 51 của Bộ luật Lao động năm 2019;

- Căn cứ Điều 37 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu giải quyết việc lao động của bà Bùi Thị Hoa Q.

- Tuyên bố hợp đồng lao động giữa bà Bùi Thị Hoa Q với Công ty TNHH S (theo sổ bảo hiểm xã hội số 7408111991) bị vô hiệu.

- Xác định người lao động theo sổ bảo hiểm xã hội số 7408111991 không phải là bà Bùi Thị Hoa Q, sinh năm 1990, giới tính: Nữ, quốc tịch: Việt Nam, căn cước công dân số: xxxxxxxxxxxx. Bà Bùi Thị Hoa Q và bà Bùi Thị D được quyền liên hệ với C có thẩm quyền để tiến hành thủ tục cải chính thông tin tại sổ bảo hiểm xã hội mã số 7408111991.

2. Lệ phí sơ thẩm giải quyết việc lao động: Bà Bùi Thị Hoa Q phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng), được khấu trừ tiền tạm ứng đã nộp theo biên lai thu số 0038519 ngày 14/11/2025 của Thi hành án Dân sự Thành phố Hồ Chí Minh.

3. Người yêu cầu, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo trong thời hạn 10 (mười) ngày, kể từ ngày nhận được quyết định hoặc kể từ ngày quyết định được thông báo, niêm yết. Viện kiểm sát cùng cấp có quyền kháng nghị quyết định giải quyết trong thời hạn 10 (mười) ngày, Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp có quyền kháng nghị trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày Tòa án ra quyết định.

Trường hợp Quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ