vanban.org

Quyết định 29/2021/QĐST-HNGĐ — Yêu cầu không công nhận bản án, quyết định về hôn nhân và gia đình của Tòa án nước ngoài hoặc cơ quan khác...

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Công nhận kết quả hòa giải thành tại Tòa án thụ lý số: 72/2021/TLHG-VHNGĐ ngày 19 tháng 5 năm 2021, cụ thể như sau:

Về quan hệ hôn nhân: Ông Trần Công V và bà Lê Thị M thỏa thuận trở về đoàn tụ cùng nhau xây dựng hạnh phúc gia đình và nuôi dạy các con trưởng thành. Về chi phí hòa giải: Ông Trần Công V và bà Lê Thị M không phải chịu chi phí hòa giải theo quy định của Luật hòa giải, đối thoại tại Tòa án. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Yêu cầu không công nhận bản án, quyết định về hôn nhân và gia đình của Tòa án nước ngoài hoặc cơ quan khác... — án hôn nhân và gia đình — "QĐ Công nhận kết quả hòa giải thành tại Tòa án giữa Trần Công V- Lê Thị M"
  • Tòa quyết gì? Công nhận kết quả hòa giải thành tại Tòa án thụ lý số: 72/2021/TLHG-VHNGĐ ngày 19 tháng 5 năm 2021, cụ thể như sau:
  • Căn cứ chính? Điều 32 Luật Hòa giải, đối thoại tại Tòa án; Điều 33 Luật Hòa giải, đối thoại tại Tòa án; Điều 34 Luật Hòa giải, đối thoại tại Tòa án
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN BỐ TRẠCH
TỈNH QUẢNG BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 29/2021/QĐST-HNGĐBố Trạch, ngày 28 tháng 6 năm 2021

QUYẾT ĐỊNH

CÔNG NHẬN KẾT QUẢ HÒA GIẢI THÀNH TẠI TÒA ÁN

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BỐ TRẠCH, TỈNH QUẢNG BÌNH

- Thẩm phán ra quyết định: Ông Trần Trung Thành.

- Người yêu cầu: Ông Trần Công V, sinh năm 1971 và bà Lê Thị M, sinh năm 1971; đều cư trú tại: Tiểu khu A, thị trấn B, huyện C, tỉnh Quảng Bình.

NỘI DUNG:

Theo nội dung Biên bản ghi nhận kết quả hòa giải về việc đoàn tụ thành tại Tòa án ngày 11/6/2021, ông Trần Công V và bà Lê Thị M thống nhất trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Ông V và bà M đăng ký kết hôn vào ngày 17/3/2005 tại Ủy ban nhân dân thị trấn B, huyện C, tỉnh Quảng Bình trên cơ sở tự nguyện. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc và sinh được 02 người con: Trần Lê Nhật Q, sinh ngày 07/01/2010 và Trần Lê Đức A, sinh ngày 12/12/2005. Tuy nhiên, trong thời gian gân đây, tình cảm vợ chồng mới bắt đầu phát sinh mâu thuẫn vì có sự bất đồng trong quan điểm sống, cho nên thường xuyên xảy ra tranh cãi, cho nên trong lúc nóng giận ông V và bà M đều có đơn yêu cầu giải quyết thuận tình ly hôn nhau. Nhưng trong quá trình hòa giải tại Tòa án, ông bà nhận thấy tình cảm vợ chồng vẫn còn, mâu thuẫn không trầm trọng. Vì vậy, các bên thống nhất trở về đoàn tụ để cùng nhau xây dựng gia đình hạnh phúc gia đình, nuôi dạy các con trưởng thành.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ yêu cầu công nhận kết quả hòa giải tại Tòa án được thẩm tra tại phiên hòa giải; ý kiến của các bên tham gia hòa giải, Tòa án nhân dân huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình nhận định:

Nội dung thỏa thuận, thống nhất trong Biên bản ghi nhận kết quả hòa giải ngày 11 tháng 6 năm 2021 giữa ông Trần Công V và bà Lê Thị M là hoàn toàn tự nguyện và không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội.

Đã hết thời hạn 15 ngày, kể từ ngày Tòa án nhận được Biên bản ghi nhận kết quả hòa giải và tài liệu kèm theo, không có đương sự nào thay đổi ý kiến về sự thoả thuận đó.

Căn cứ hồ sơ vụ án hôn nhân gia đình thụ lý hòa giải số: 72/2021/TLHG - VHNGĐ ngày 19 tháng 5 năm 2021; khoản 1 Điều 9 và các Điều 32, 33, 34, 35, Điều 36 của Luật Hòa giải, đối thoại tại Tòa án và Biên bản ghi nhận kết quả hòa giải ngày 11 tháng 6 năm 2021,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Công nhận kết quả hòa giải thành tại Tòa án thụ lý số: 72/2021/TLHG-VHNGĐ ngày 19 tháng 5 năm 2021, cụ thể như sau:

Về quan hệ hôn nhân: Ông Trần Công V và bà Lê Thị M thỏa thuận trở về đoàn tụ cùng nhau xây dựng hạnh phúc gia đình và nuôi dạy các con trưởng thành.

2. Về chi phí hòa giải: Ông Trần Công V và bà Lê Thị M không phải chịu chi phí hòa giải theo quy định của Luật hòa giải, đối thoại tại Tòa án.

3. Quyết định này có hiệu lực pháp luật ngay sau khi được ban hành và không bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm và được thi hành theo quy định của pháp luật về thi hành án dân sự. Ông Trần Công Việt và bà Lê Thị Mơ, Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp có quyền kiến nghị, đề nghị xem xét lại quyết định công nhận kết quả hòa giải thành trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được quyết định của Tòa án.

Cỡ chữ