- Tranh chấp gì? Yêu cầu tuyên bố hợp đồng lao động, thỏa ước lao động tập thể vô hiệu — án lao động — "Yeu viiec lao dong"
- Tòa quyết gì? 39; Điều 146; Điều 149; Điều 361; Điều 366; Điều 367; Điều 370; Điều 371; Điều 372; Điều 401 và Điều 402 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
- Căn cứ chính? Điều 146 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 149 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 15 Bộ luật Lao động
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 16 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH Số: 288/2025/QĐST-LĐ | Tp. Hồ Chí Minh, ngày 28 tháng 11 năm 2025 |
QUYẾT ĐỊNH
SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC LAO ĐỘNG
V/v yêu cầu tuyên bố hợp đồng lao động vô hiệu
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 16 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Thành phần giải quyết việc lao động gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Ông Lê Sỹ Trứ.
Thư ký phiên họp: Ông Bùi Xuân Dũng - Thư ký Tòa án.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 16 - Thành phố Hồ Chí Minh
tham gia phiên họp: Bà Nguyễn Ngọc Hương - Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 11 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân khu vực 16 - Thành
phố Hồ Chí Minh mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc lao động thụ lý số: 399/2025/VLĐ-ST ngày 13 tháng 11 năm 2025 về việc “Yêu cầu tuyên bố hợp đồng lao động vô hiệu” theo Quyết định mở phiên họp sơ thẩm giải quyết việc lao động số: 245/2025/QĐST-LĐ ngày 24 tháng 11 năm 2025, gồm những người tham gia tố tụng sau đây:
Người yêu cầu: Bà Thạch Thị H (Thạch Thị H1), sinh năm 1989; trú tại:
Ấp T, xã T, Thành phố Cần Thơ; địa chỉ liên lạc: Tổ D, khu phố B, phường T, Thành phố Hồ Chí Minh. Vắng mặt, có yêu cầu giải quyết vắng mặt.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.
- Bà Thạch Thị Mỹ H2, sinh năm 1993; trú tại: Ấp M, xã M, tỉnh Đồng Tháp.
Vắng mặt.
- Công ty TNHH Standard Furniture Việt Nam; địa chỉ: Đường số C, KCN
Đ, phường B, Thành phố Hồ Chí Minh. Vắng mặt.
- Bảo hiểm xã hội cơ sở T - Thành phố Hồ Chí Minh; địa chỉ: Khu phố E,
phường T, Thành phố Hồ Chí Minh. Vắng mặt.
NỘI DUNG VIỆC LAO ĐỘNG:
- Theo đơn yêu cầu giải quyết việc lao động và lời khai trong quá trình giải
quyết bà Thạch Thị H (Thạch Thị H1) trình bày:
Trước đây bà Thạch Thị H đi làm với tên là Thạch Thị H1, sinh năm 1989,
giấy chứng minh nhân dân xxxxxxxxx, sổ bảo hiểm xã hội số sổ: 7409181393 cấp cho Thạch Thị H1. Sau này khi Nhà nước làm lại toàn bộ giấy tờ căn cước công dân và kiểm tra lại Giấy khai sinh của bà H tên là Thạch Thị H, sinh ngày 22/10/1989 nhưng do khi đi làm sổ hộ khẩu và giấy chứng minh nhân dân bị nhầm tên là Thạch Thị H1. Theo giấy khai sinh số 108/1993 đăng ký ngày 01/01/1993. Tại tờ trình ngày 30/9/2024, Ủy ban nhân dân xã T, huyện L, tỉnh Sóc Trăng (nay là xã T, Thành phố Cần Thơ) đã xác nhận bà H và bà Thạch Thị H1 là một. Tại Thông báo về kết quả giải quyết, hủy bỏ đăng ký cư trú số 000132/TB ngày 19/2/2024 của Công an xã T, huyện L, tỉnh Sóc Trăng (nay là xã T, Thành phố Cần Thơ) đã điều chỉnh dữ liệu dân cư cho công dân cụ thể: Thạch Thị H1, ngày sinh 01/01/1989, giới tính nữ, số ĐDCN/CCCD/CMND: xxxxxxxxxxxx thành Thạch Thị H, ngày sinh 22/10/1989, giới tính nữ số ĐDCN/CCCD/CMND: xxxxxxxxxxxx. Vì vậy nay bà Thạnh Thị H3 (trước đây là Thạch Thị H1) có ý kiến về yêu cầu giải quyết việc dân sự như sau:
Bà Thạch Thị H (trước đây là Thạch Thị H1) đi làm thủ tục tại Bảo hiểm xã
hội thì được biết bảo hiểm xã hội của bà Thạnh Thị H3 (trước đây là Thạch Thị H1) bị trùng trong khoảng thời gian từ tháng 5 năm 2009 đến tháng 02 năm 2012. Nguyên nhân bị trùng bảo hiểm xã hội là do Thạnh Thị H3 (trước đây là Thạch Thị H1) cho bà Thạch Thị Mỹ H2 mượn để đi làm tại Công ty TNHH Standard Furniture Việt Nam, quá trình làm việc bà Thạch Thị Mỹ H2 được Công ty TNHH Standard Furniture Việt Nam tham gia bảo hiểm xã hội với mã số sổ bảo hiểm là 7409181393. Vì thiếu hiểu biết, nghĩ rằng việc cho bà Thạch Thị Mỹ H2 mượn chứng minh nhân dân để ký kết hợp đồng lao động với Công ty TNHH Standard Furniture Việt Nam là không vi phạm gì và chỉ mong muốn cho bà Thạch Thị Mỹ H2 có công việc để trang trải cuộc sống. Vì vậy, bà Thạch Thị H (trước đây là Thạch Thị H1) yêu cầu Tòa án tuyên bố hợp đồng lao động giữa bà Thạch Thị Mỹ H2 và Công ty TNHH Standard Furniture Việt Nam là vô hiệu. Bà ThạchThị H4 (trước đây là Thạch Thị H1) không yêu cầu Tòa án giải quyết hậu quả khi tuyên hợp đồng vô hiệu.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Thạch Thị Mỹ H2 trình bày:
Khoảng tháng 5 năm 2009, bà Thạch Thị Mỹ H2 không có chứng minh nhân dân nên đã mượn chứng minh nhân dân của bà Thạch Thị H (trước đây là Thạch Thị H1) để xin vào làm việc tại Công ty TNHH Standard Furniture Việt Nam và tham gia đóng bảo hiểm xã hội từ tháng 5 năm 2009 đến tháng 02 năm 2012 với số sổ bảo hiểm xã hội là 7409181393. Nay bà Thạch Thị Mỹ H2 thống nhất toàn bộ yêu cầu của bà Thạch Thị H (trước đây là Thạch Thị H1) và đề nghị Tòa án tuyên bố hợp đồng lao động giữa bà Thạch Thị H (trước đây là Thạch Thị H1) với Công ty TNHH Standard Furniture Việt Nam là vô hiệu. Sau khi kết thúc hợp đồng lao động với Công ty TNHH Standard Furniture Việt Nam thì bà chưa nhận trợ cấp bảo hiểm gì, bà cũng không yêu cầu gì liên quan đến bảo hiểm trong trường hợp Tòa án chấp nhận yêu cầu của bà Thạch Thị H (trước đây là Thạch Thị H1), bà Thạch Thị Mỹ H2 không yêu cầu giải quyết hậu quả của hợp đồng vô hiệu.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Công ty TNHH Standard Furniture
Việt Nam: Công ty TNHH Standard Furniture Việt Nam đã được Tòa án thông báo và tống đạt các văn bản tố tụng để tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án theo đúng quy định tại các Điều 178; Điều 366; Điều 367; Điều 369 và Bộ luật Tố tụng dân sự. Tuy nhiên Công ty TNHH Standard Furniture Việt Nam đều vắng mặt không rõ lý do.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Bảo hiểm xã hội cơ sở T - Thành
phố Hồ Chí Minh: Bảo hiểm xã hội cơ sở Tân Uyên - Thành phố T đã được Tòa án thông báo và tống đạt các văn bản tố tụng để tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án theo đúng quy định tại các Điều 178; Điều 366; Điều 367; Điều 369 và Bộ luật Tố tụng dân sự. Tuy nhiên Bảo hiểm xã hội cơ sở T - Thành phố Hồ Chí Minh đều vắng mặt không rõ lý do.
Tại phiên họp, đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 16 – Thành phố Hồ
Chí Minh phát biểu ý kiến về việc giải quyết việc lao động và đề nghị: Quá trình tố tụng, Thẩm phán, Thư ký phiên họp và đương sự đã chấp hành theo đúng quy định của pháp luật. Về nội dung: Xét thấy, yêu cầu của Thạch Thị H (trước đây là Thạch Thị H1) là có căn cứ, đề nghị Tòa án xem xét chấp nhận.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Về thủ tục tố tụng: Người yêu cầu Thạch Thị H (trước đây là Thạch Thị
H1); người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Thạch Thị Mỹ H2 có yêu cầu giải quyết vắng mặt. Công ty TNHH Standard Furniture Việt Nam; Bảo hiểm xã hội cơ sở T - Thành phố Hồ Chí Minh vắng mặt không rõ lý do. Căn cứ Điều 367 Bộ luật Tố tụng Dân sự, Tòa án tiến hành phiên họp vắng mặt các đương sự.
Xem xét yêu cầu của đương sự:
Trong thời gian từ tháng 5 năm 2009 đến tháng 02 năm 2012, người
lao động tên bà Thạch Thị H (trước đây là Thạch Thị H1) giao kết hợp đồng lao động với Công ty TNHH Standard Furniture Việt Nam và được Công ty TNHH Standard Furniture Việt Nam tham gia bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp với mã số bảo hiểm xã hội là 7409181393. Tuy nhiên, bà Thạch Thị H (trước đây là Thạch Thị H1) và bà Thạch Thị Mỹ H2 đều thừa nhận người ký hợp đồng lao động với Công ty TNHH Standard Furniture Việt Nam và thực tế làm việc tại Công ty trong khoảng từ tháng 5 năm 2009 đến tháng 02 năm 2012 là bà Thạch Thị Mỹ H2 (do bà Thạch Thị H (trước đây là Thạch Thị H1) cho bà Thạch Thị Mỹ H2 mượn chứng minh nhân dân).
Xét thấy, lời khai của bà Thạch Thị Mỹ H2 (do bà Thạch Thị H (trước
đây là Thạch Thị H1), bà Thạch Thị Mỹ H2 phù hợp với xác nhận của Bảo hiểm xã hội cơ sở Lái Thiêu. Bởi lẽ, trong khoảng từ tháng 5 năm 2009 đến tháng 02 năm 2012, bà Thạch Thị H (trước đây là Thạch Thị H1) đang làm việc tại Công ty khác. Như vậy, chủ thể ký kết hợp đồng lao động với Công ty TNHH Standard Furniture Việt Nam trong khoảng thời gian từ tháng 5 năm 2009 đến tháng 02 năm 2012 là bà Thạch Thị Mỹ H2, không phải là bà Thạch Thị Mỹ H2 (do bà Thạch Thị H (trước đây là Thạch Thị H1).
Theo khoản 1 Điều 17 của Bộ luật Lao động năm 2012 và khoản 1 Điều 15
của Bộ luật Lao động năm 2019, quy định về nguyên tắc giao kết hợp đồng lao động: “Tự nguyện, bình đẳng, thiện chí, hợp tác và trung thực”. Theo quy định về nghĩa vụ cung cấp thông tin khi giao kết hợp đồng lao động tại khoản 2 Điều 19 của Bộ luật Lao động năm 2012, thì: “Người lao động phải cung cấp thông tin cho người sử dụng lao động về họ tên, tuổi, giới tính, nơi cư trú, trình độ học vấn, trình độ kỹ năng nghề, tình trạng sức khoẻ và vấn đề khác liên quan trực tiếp đến việc giao kết hợp đồng lao động mà người sử dụng lao động yêu cầu” và khoản 2 Điều 16 của Bộ luật Lao động năm 2019, thì: “Người lao động phải cung cấp thông tin trung thực cho người sử dụng lao động về họ tên, ngày tháng năm sinh, giới tính, nơi cư trú, trình độ học vấn, trình độ kỹ năng nghề, xác nhận tình trạng sức khỏe và vấn đề khác liên quan trực tiếp đến việc giao kết hợp đồng lao động mà người sử dụng lao động yêu cầu”. Theo quy định về hợp đồng lao động vô hiệu tại điểm b khoản 1 Điều 50 của Bộ luật Lao động năm 2012, thì: “Người ký kết hợp đồng lao động không đúng thẩm quyền” và điểm b khoản 1 Điều 49 của Bộ luật Lao động năm 2019, thì: “Người giao kết hợp đồng lao động không đúng thẩm quyền hoặc vi phạm nguyên tắc giao kết hợp đồng lao động quy định tại khoản 1 Điều 15 của Bộ luật này”. Theo hướng dẫn tại Công văn số 1767/LĐTBXH-BHXH ngày 31/5/2022 về việc người lao động mượn hồ sơ của người khác để giao kết hợp đồng lao động của Bộ L thì: “…Trường hợp người lao động mượn hồ sơ của người khác để giao kết hợp đồng lao động là hành vi vi phạm nguyên tắc “trung thực” theo quy định tại khoản 1 Điều 15 của Bộ luật Lao động và vi phạm nghĩa vụ cung cấp thông tin khi giao kết hợp đồng lao động theo quy định tại khoản 2 Điều 16 của Bộ luật Lao động. Căn cứ quy định tại điểm b khoản 1 Điều 49 của Bộ luật Lao động đây là trường hợp hợp đồng lao động vô hiệu toàn bộ…”. Do đó, có cơ sở xác định việc bà Thạch Thị Mỹ H2 mượn hồ sơ cá nhân của bà Thạch Thị H (trước đây là Thạch Thị H1) để giao kết hợp đồng lao động và tham gia bảo hiểm xã hội theo sổ BHXH số 7409181393 từ tháng 5 năm 2009 đến tháng 02 năm 2012 tại Công ty TNHH Standard Furniture Việt Nam là hành vi vi phạm nguyên tắc “trung thực” và vi phạm nghĩa vụ cung cấp thông tin khi giao kết hợp đồng lao động, đây là trường hợp hợp đồng lao động vô hiệu toàn bộ.
Từ những nhận định trên, có căn cứ chấp nhận yêu cầu của bà Thạch
Thị H (trước đây là Thạch Thị H1) về việc yêu cầu tuyên bố hợp đồng lao động giữa bà Thạch Thị H (trước đây là Thạch Thị H1) với Công ty TNHH Standard Furniture Việt Nam theo sổ bảo hiểm xã hội số 7409181393 bị vô hiệu.
Tại khoản 5 Điều 402 của Bộ luật Tố tụng Dân sự quy định về xem
xét yêu cầu tuyên bố hợp đồng lao động vô hiệu, thỏa ước lao động tập thể vô hiệu:“... Tòa án phải giải quyết hậu quả pháp lý của việc tuyên bố hợp đồng lao động vô hiệu", chấp nhận yêu cầu của bà Thạch Thị H (trước đây là Thạch Thị H1) và ý kiến của bà về việc xác định người lao động tại Công ty TNHH Standard Furniture Việt Nam trong giai đoạn từ tháng 5 năm 2009 đến tháng 02 năm 2012 là bà Thạch Thị Mỹ H2, không phải là bà Thạch Thị H (trước đây là Thạch Thị H1). Bà Thạch Thị H (trước đây là Thạch Thị H1) và bà Thạch Thị Mỹ H2 có quyền liên hệ cơ quan bảo hiểm xã hội có thẩm quyền để cải chính thông tin tại Sổ bảo hiểm xã hội mã số 7409181393.
Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát về nội dung việc lao động, các thủ
tục tố tụng, quá trình tiến hành tố tụng cũng như diễn biến tại phiên họp là phù hợp với quy định của pháp luật.
Về lệ phí: Bà Thạch Thị H (trước đây là Thạch Thị H1) chịu
300.000đồng (ba trăm nghìn đồng).
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ khoản 1 Điều 33; điểm d khoản 2 Điều 35; điểm v khoản 2 Điều
39; Điều 146; Điều 149; Điều 361; Điều 366; Điều 367; Điều 370; Điều 371; Điều 372; Điều 401 và Điều 402 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
- Căn cứ khoản 1 Điều 17; khoản 2 Điều 19; Điều 50; Điều 51 và Điều 52
của Bộ luật Lao động năm 2012;
- Căn cứ khoản 1 Điều 15; khoản 2 Điều 16; Điều 49; Điều 50 và Điều 51
của Bộ luật Lao động năm 2019;
- Căn cứ Điều 37 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của
Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu giải quyết việc lao động của bà Thạch Thị H
(trước đây là Thạch Thị H1).
- Tuyên bố hợp đồng lao động giữa bà Thạch Thị H (trước đây là Thạch Thị
H1) với Công ty TNHH Standard Furniture Việt Nam (theo sổ bảo hiểm xã hội số 7409181393; mã số BHXH: 7409181393) bị vô hiệu.
- Xác định người lao động theo sổ bảo hiểm xã hội số 7409181393; mã số
BHXH: 7409181393 không phải là bà Thạch Thị H (trước đây là Thạch Thị H1), sinh năm 1989, giới tính: Nữ, quốc tịch: Việt Nam, căn cước công dân số: xxxxxxxxxxxx, chứng minh nhân dân số: xxxxxxxxx. Bà Thạch Thị H (trước đây là Thạch Thị H1) và bà Thạch Thị Mỹ H2 được quyền liên hệ với C có thẩm quyền để tiến hành thủ tục cải chính thông tin theo sổ bảo hiểm xã hội số 7409181393; mã số BHXH số 7409181393.
2. Lệ phí sơ thẩm giải quyết việc lao động: Bà Thạch Thị H (trước đây là
Thạch Thị H1) phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng), được khấu trừ tiền tạm ứng đã nộp theo biên lai thu số 0035948 ngày 07/11/2025 của Thi hành án Dân sự Thành phố Hồ Chí Minh.
3. Người yêu cầu, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng
cáo trong thời hạn 10 (mười) ngày, kể từ ngày nhận được quyết định hoặc kể từ ngày quyết định được thông báo, niêm yết. Viện kiểm sát cùng cấp có quyền kháng nghị quyết định giải quyết trong thời hạn 10 (mười) ngày, Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp có quyền kháng nghị trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày Tòa án ra quyết định.
Trường hợp Quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi
hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự./.
| Nơi nhận: - TAND Thành phố Hồ Chí Minh; - VKSND Khu vực 16 - Thành phố Hồ Chí Minh; - Phòng THADS khu vực 16 – Thành phố Hồ Chí Minh; - Các đương sự; - Lưu: HS. | THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN HỌP Lê Sỹ Trứ |