- Tranh chấp gì? Yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn... — án hôn nhân và gia đình — "Việc Ly hôn giữa anh D và chị H"
- Tòa quyết gì? Công nhận thuận tình ly hôn và sự thoả thuận của các đương sự, cụ thể
- Căn cứ chính? Luật Phí và lệ phí; Điều 149 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 212 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HAI BÀ TRƯNG - TP. HÀ NỘI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 281/2024/QĐST-HNGĐ | Quận Hai Bà Trưng, ngày 13 tháng 5 năm 2024 |
QUYẾT ĐỊNH
CÔNG NHẬN THUẬN TÌNH LY HÔN
VÀ SỰ THOẢ THUẬN CỦA CÁC ĐƯƠNG SỰ
Căn cứ khoản 2 Điều 29, điểm b khoản 2 Điều 35, điểm h khoản 2 Điều 39,
Điều 149, Điều 397, Điều 212 và Điều 213 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ khoản 1 Điều 51, Điều 55 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;
Căn cứ Luật Phí và Lệ phí năm 2015;
Căn cứ khoản 3 Điều 37 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH4 ngày
30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Sau khi nghiên cứu hồ sơ việc dân sự thụ lý số 290/2024/TLST-VHNGĐ
ngày 02/5/2024 về việc yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn, thoả thuận nuôi con và chia tài sản khi ly hôn của những người tham gia tố tụng sau đây:
Người yêu cầu giải quyết việc dân sự:
- Anh Lê Văn D; sinh năm 1982; có mặt.
- Chị Nguyễn Thị Thúy H; sinh năm 1983; có mặt.
Đều có hộ khẩu thường trú và cư trú: Số 21 ngõ Đ, quận H, thành phố
Hà Nội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Anh Lê Văn D và chị Nguyễn Thị Thúy H kết hôn trên cơ sở tự nguyện,
tự do tìm hiểu và có đăng ký kết hôn ngày 06/02/2006 tại Uỷ ban nhân dân phường L, quận H, thành phố Hà Nội. Theo anh chị trình bày: Trước khi kết hôn, anh chị đều chưa ai kết hôn lần nào. Sau khi kết hôn cho đến nay, anh chị chung sống và có hộ khẩu thường trú tại địa chỉ: số 21 ngõ Đ, quận H, thành phố Hà Nội. Thời gian đầu, vợ chồng chung sống hạnh phúc. Tuy nhiên đến đầu năm 2020, cuộc sống chung nảy sinh nhiều mâu thuẫn, nguyên nhân do hai bên không hợp nhau về tính cách, quan điểm và lối sống, nên cả hai thường nảy sinh bất đồng, khiến cho cuộc sống chung luôn căng thẳng, mệt mỏi. Nay anh D và chị H cùng xác định mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, tình cảm vợ chồng không còn, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, nên cùng có đơn yêu cầu Toà án giải quyết cho anh chị thuận tình ly hôn.
Ngày 03/5/2024, Toà án đã tiến hành hoà giải để vợ chồng đoàn tụ; giải
thích về quyền và nghĩa vụ giữa vợ và chồng, giữa cha mẹ và con, giữa các thành viên khác trong gia đình, về trách nhiệm cấp dưỡng và các vấn đề khác liên quan đến hôn nhân gia đình. Tuy nhiên anh D và chị H không đồng ý đoàn tụ, hai bên thuận tình ly hôn và đã thoả thuận với nhau về các nội dung: tài sản, vay nợ, về con và nghĩa vụ chịu lệ phí giải quyết việc dân sự như ghi nhận tại Biên bản ghi nhận sự tự nguyện ly hôn và hòa giải thành lập ngày 03/5/2024.
Xét thấy việc thuận tình ly hôn và thoả thuận của anh D và chị H tại Biên
bản ghi nhận sự tự nguyện ly hôn và hòa giải thành lập ngày 03/5/2024 là hoàn toàn tự nguyện, bảo đảm quyền lợi chính đáng của các bên và không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội. Đã hết thời hạn 07 ngày, kể từ ngày lập biên bản, không có đương sự nào thay đổi ý kiến về sự thoả thuận đó.
QUYẾT ĐỊNH:
1. Công nhận thuận tình ly hôn và sự thoả thuận của các đương sự, cụ thể
như sau:
1.1. Về quan hệ hôn nhân: Anh Lê Văn D và chị Nguyễn Thị Thúy H
cùng xác nhận tình cảm vợ chồng không còn, mâu thuẫn đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, nên cùng thuận tình ly hôn.
1.2. Về con chung: Anh Lê Văn D và chị Nguyễn Thị Thúy H cùng xác
nhận có hai con chung là Lê Xuân T, sinh ngày 10/02/2007, giới tính: nữ và Lê Đức T, sinh ngày 02/10/2011, giới tính: nam. Hiện sức khỏe con chung bình thường, phát triển tốt. Anh chị thoả thuận sau ly hôn, chị Nguyễn Thị Thúy H là người trực tiếp trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục con chung Lê Xuân T; anh Lê Văn D là người trực tiếp trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục con chung Lê Đức T kể từ khi ly hôn cho đến khi con chung trưởng thành (đủ 18 tuổi) hoặc đến khi có sự thay đổi khác về người trực tiếp nuôi con.
Sau khi ly hôn, anh Lê Văn D và chị Nguyễn Thị Thúy H có quyền, nghĩa
vụ thăm nom và chăm sóc con chung mà không ai được cản trở.
Về cấp dưỡng nuôi con chung: Anh Lê Văn D và chị Nguyễn Thị Thúy H
xác nhận tự thỏa thuận và không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên Tòa án không xét.
1.3. Về tài sản chung (bao gồm động sản và bất động sản): Anh Lê Văn
D và chị Nguyễn Thị Thúy H xác nhận không có và không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên Tòa án không xét.
1.4. Về vay nợ chung: Anh Lê Văn D và chị Nguyễn Thị Thúy H cùng
xác nhận không có và không yêu cầu Toà án giải quyết, nên Tòa án không xét
1.5. Về lệ phí: Anh Lê Văn D và chị Nguyễn Thị Thúy H thỏa thuận anh
Dlà người chịu toàn bộ lệ phí giải quyết yêu cầu hôn nhân gia đình là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng), được trừ vào số tiền tạm ứng lệ phí 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) chị đã nộp theo Giấy thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 000001174616 ngày 02/5/2024 qua Kho bạc Nhà nước quận Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội, đơn vị nhận tiền Chi cục Thi hành án dân sự quận Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội.
2. Quyết định này có hiệu lực pháp luật ngay sau khi được ban hành và
không bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm. * Nơi nhận:
| - Đương sự; - VKSND quận Hai Bà Trưng; - UBND phường L, quận H, thành phố Hà Nội; - Lưu: Hồ sơ việc dân sự. | THẨM PHÁN (Đã ký) Nguyễn Thị Phương Thủy |