vanban.org

Quyết định 28/2025/QĐST-LĐ — Yêu cầu tuyên bố hợp đồng lao động, thỏa ước lao động tập thể vô hiệu

TAND TX. Tân Uyên, tỉnh Bình Dương Tuyên án 24/03/2025 Lao động Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu giải quyết việc lao động của bà Nguyễn Thị Thanh Th.

Tuyên bố hợp đồng lao động giữa bà Nguyễn Thị Thanh Th với Công ty Công ty TNHH Bouvrie I VN, thời gian làm việc từ tháng 3/2012 đến tháng 7/2012 bị vô hiệu. Các bên có quyền và nghĩa vụ liên hệ cơ quan có thẩm quyền để thực hiện các thủ tục liên quan đến bảo hiểm theo quy định của pháp luật. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Yêu cầu tuyên bố hợp đồng lao động, thỏa ước lao động tập thể vô hiệu — án lao động — "Yêu cầu tuyên bố hợp đồng lao động vô hiệu Nguyễn Thị Thanh Th- Công ty TNHH Bouvrie I VN"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu giải quyết việc lao động của bà Nguyễn Thị Thanh Th.
  • Căn cứ chính? Điều 149 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 15 Bộ luật Lao động; Điều 16 Bộ luật Lao động
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ TÂN UYÊN
TỈNH BÌNH DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 28/2025/QĐST-LĐTân Uyên, ngày 24 tháng 3 năm 2025

QUYẾT ĐỊNH

SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC LAO ĐỘNG

V/v yêu cầu tuyên bố hợp đồng lao động vô hiệu

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TÂN UYÊN, TỈNH BÌNH DƯƠNG

Thành phần giải quyết việc lao động gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Bà Bùi Thị Bích Hạnh.

Thư ký phiên họp: Ông Nguyễn Trọng Nam - Thư ký Tòa án.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tân Uyên, tỉnh Bình Dương tham gia phiên họp: Võ Anh Duy - Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân thành phố Tân Uyên mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc lao động thụ lý số: 76/2024/TLST-VLĐ ngày 04 tháng 12 năm 2024 về việc “Yêu cầu tuyên bố hợp đồng lao động vô hiệu” theo Quyết định mở phiên họp sơ thẩm giải quyết việc lao động số: 11/2025/QĐST-LĐ ngày 10 tháng 3 năm 2025, gồm những người tham gia tố tụng sau đây:

Người yêu cầu giải quyết việc lao động: Bà Nguyễn Thị Thanh Th, sinh năm 1991; địa chỉ: Khu vực Bình A, phường Phước Th, quận M, Thành phố Cần Thơ; có mặt.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. Bà Lê Thị Phụng K, sinh năm 1993; địa chỉ: Ấp Tân A, xã Tân Th, huyện Đ, Thành phố Cần Thơ; có mặt.

2. Công ty TNHH Bouvrie I VN; địa chỉ: Khu phố N, phường Uyên H, thành phố U, tỉnh Bình Dương.

Người đại diện hợp pháp: Bà Trần Thị Ngọc H, sinh năm 1993; địa chỉ: Ấp M, xã Tân M, huyện T, tỉnh Bình Dương; là người đại diện theo ủy quyền (Giấy ủy quyền ngày 09/01/2025); có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt.

- Bảo hiểm xã hội thành phố U; địa chỉ: Khu phố N, phường Uyên H, thành phố U, tỉnh Bình Dương.

Người đại diện hợp pháp: Ông Trương Thanh Nh; chức vụ: Giám đốc; có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt.

NỘI DUNG VIỆC LAO ĐỘNG:

Theo đơn yêu cầu giải quyết việc lao động và lời khai trong quá trình giải quyết người yêu cầu bà Nguyễn Thị Thanh Th trình bày:

Bà Nguyễn Thị Thanh Th có làm việc tại Công ty TNHH Hải Sản Thanh Th, địa chỉ: lô A, Khu Công nghiệp Trà Nóc M, phường N, quận Bình Th, Thành phố Cần Thơ. Khi làm việc tại công ty bà Th có tham gia Bảo hiểm xã hội theo số sổ 9214000921 cấp lần 5 do Bảo hiểm xã hội quận M cấp vào ngày 18/7/2024. Bà Th làm việc tại Công ty TNHH Hải Sản Thanh Th đến 6/2023 thì xin thôi việc. Đến ngày 30/6/2023, Công ty đã ban hành Quyết định số 82/QĐ-TT.2023 về việc chấm dứt hợp đồng lao động với bà Th.

Sau khi thôi việc bà Th đã liên hệ Bảo hiểm xã hội quận M để làm thủ tục xin hưởng bảo hiểm xã hội. Nhưng Bảo hiểm xã hội quận M từ chối với lý do có thời gian tham gia bảo hiểm trùng. Cụ thể thì số sổ BHXH 9214000921 của bà Nguyễn Thị Thanh Th có thời gian là 02 tháng (6/2012 - 7/2012) bị trùng giữa Công ty TNHH Bouvrie I VN với Công ty TNHH V-E mà bà Th đã làm việc trước đây. Tại thời điểm đó bà Th hiện đang làm việc tại Công ty TNHH V-E, không làm việc tại Công ty TNHH Bouvrie I VN. Cũng vào thời gian đó bà Th có cho người bạn là Lê Thị Phụng K mượn hồ sơ để đi làm. Do bà K muốn lên Bình Dương làm việc nhưng gia đình ngăn cản nên bà K trốn đi và không mang theo giấy tờ tùy thân nào. Thấy hoàn cảnh của bà K khó khăn nên bà Th đã cho bà K mượn giấy chứng minh nhân dân để đi làm ở Bình Dương. Việc bà Lê Thị Phụng K sử dụng thông tin cá nhân của bà Th để giao kết hợp đồng lao động với Công ty TNHH Bouvrie I VN là không đúng quy định pháp luật. Do vậy, bà Th yêu cầu Tòa án tuyên hợp đồng lao động ký kết từ tháng 3/2012 đến tháng 7/2012 giữa Công ty TNHH Bouvrie I VN với bà Nguyễn Thị Thanh Th vô hiệu, không yêu cầu giải quyết hậu quả của hợp đồng vô hiệu.

Người đại diện hợp pháp của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Công ty TNHH Bouvrie I VN bà Trần Thị Ngọc H trình bày: Vào tháng 02/2012, Công ty TNHH Bouvrie International VN có nhận bà Nguyễn Thị Thanh Th vào làm công nhân tại Công ty, hai bên có ký hợp đồng lao động và Công ty có tham gia bảo hiểm đầy đủ cho bà Th. Tháng 7/2012, bà Th nghỉ việc, Công ty đã giải quyết đầy đủ chế độ bảo hiểm, bảo lưu sổ bảo hiểm khi nghỉ việc. Nay bà Th yêu cầu tuyên bố hợp đồng lao động giữa Công ty TNHH Bouvrie I VN với bà Nguyễn Thị Thanh Th vô hiệu thì Công ty đồng ý.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Lê Thị Phụng K trình bày:

Bà Lê Thị Phụng K và bà Nguyễn Thị Thanh Th có quan hệ bạn bè thân thiết. Do muốn lên Bình Dương làm việc nhưng gia đình không cho nên bà K đã trốn đi. Do mẹ bà K giữ giấy chứng minh nhân dân nên bà K đã mượn chứng minh nhân dân của bà Nguyễn Thị Thanh Th để xin vào làm việc tại Công ty TNHH Bouvrie I VN và tham gia đóng bảo hiểm xã hội từ tháng 3/2012 đến tháng 7/2012 thì nghỉ việc. Do vậy, bà K yêu cầu Tòa án xem xét chấp nhận đơn yêu cầu của bà Nguyễn Thị Thanh Th. Bà Lê Thị Phụng K không yêu cầu Tòa án giải quyết gì về quyền lợi, nghĩa vụ gì liên quan đến bà K trong việc tuyên bố hợp đồng vô hiệu.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Bảo hiểm xã hội thành phố U, tỉnh Bình Dương trình bày: Bà Nguyễn Thị Thanh Th, sinh năm 1991, số Chứng minh nhân dân: xxxxxxxxx (Căn cước công dân: xxxxxxxxxxxx) được Công ty TNHH Bouvrie I VN tham gia Bảo hiểm xã hội (BHXH), bảo hiểm y tế (BHYT), bảo hiểm thất nghiệp (BHTN), bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp (BHTNLĐ-BNN) với mã số BHXH 7412004470 từ tháng 3/2012 đến tháng 7/2012 (kèm theo bản quá trình tham gia). Đã xác nhận quá trình đóng BHXH, BHTN, BHTNLĐ-BNN. Theo quy định hiện hành về đăng ký tham gia BHXH, BHYT, BHTN cơ quan BHXH không lưu giữ Hợp đồng lao động và các giấy tờ tùy thân của người lao động mà do người sử dụng lao động quản lý, lưu giữ. Tại thời điểm tra cứu, thông tin giải quyết hưởng các chế độ BHXH, bảo hiểm thất nghiệp như sau: Mã số 7412004470, tên Nguyễn Thị Thanh Th chưa hưởng BHXH 1 lần, chưa hưởng trợ cấp BHTN. Trường hợp Tòa án tuyên hợp đồng vô hiệu đề nghị Quý tòa tuyên buộc người mượn hồ sơ tư pháp đi làm việc và tham gia BHXH, BHTN được điều chỉnh thông tin nhân thân đúng của người lao động.

- Ý kiến của Kiểm sát viên tham gia phiên họp:

Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Trong quá trình giải quyết việc lao động Thẩm phán và Thư ký đã thực hiện đúng trình tự thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Người yêu cầu, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về nội dung: Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc lao động, đã được xem xét tại phiên họp, xét thấy yêu cầu tuyên bố hợp đồng lao động giữa bà Nguyễn Thị Thanh Th và Công ty TNHH Bouvrie I VN, thời gian làm việc từ tháng 3/2012 đến tháng 7/2012 vô hiệu là có căn cứ nên đề nghị Tòa án chấp nhận.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ được thẩm tra tại phiên họp, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát, Tòa án nhân dân thành phố Tân Uyên, tỉnh Bình Dương nhận định:

Về việc vắng mặt của những người tham gia tố tụng: Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Công ty TNHH Bouvrie I VN, Bảo hiểm xã hội thành phố U, tỉnh Bình Dương và bà Lê Thị Phụng K có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt. Do đó, Tòa án tiến hành phiên họp vắng mặt các đương sự nêu trên theo khoản 3 Điều 367 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về nội dung: Các đương sự thống nhất, thừa nhận từ tháng 3/2012 đến tháng 7/2012, bà Bà Nguyễn Thị Thanh Th, sinh năm 1991, số Chứng minh nhân dân: xxxxxxxxx (Căn cước công dân: xxxxxxxxxxxx) được Công ty TNHH Bouvrie I VN tham gia Bảo hiểm xã hội (BHXH), bảo hiểm y tế (BHYT), bảo hiểm thất nghiệp (BHTN), bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp (BHTNLĐ-BNN) với mã số BHXH 7412004470 từ tháng 3/2012 đến tháng 7/2012. Tuy nhiên, bà Th và bà K thống nhất thừa nhận người ký kết hợp đồng lao động với Công ty TNHH Bouvrie I VN và làm việc tại công ty từ tháng 3/2012 đến tháng 7/2012 là bà Lê Thị Phụng K không phải bà Nguyễn Thị Thanh Th. Do bà K muốn lên Bình Dương làm việc nhưng gia đình không đồng ý nên bà K trốn đi và đã mượn giấy tờ cá nhân của bà Nguyễn Thị Thanh Th để ký kết hợp đồng lao động với Công ty TNHH Bouvrie I VN. Lời trình bày của bà Th và bà K phù hợp với hồ sơ BHXH, cụ thể từ tháng 3/2012 đến tháng 7/2012 bà Th có quá trình tham gia bảo hiểm xã hội tại Công ty TNHH Bouvrie I VN.

[2.1) Xét thấy, việc bà Lê Thị Phụng K sử dụng chứng minh nhân dân của bà Nguyễn Thị Thanh Th để giao kết hợp đồng lao động với Công ty TNHH Bouvrie I VN là hành vi gian dối. Hành vi trên đã vi phạm nguyên tắc tự nguyện, bình đẳng, thiện chí, hợp tác và trung thực khi xác lập quan hệ lao động theo quy định tại khoản 1 Điều 15 của Bộ luật Lao động, vi phạm nghĩa vụ cung cấp thông tin theo quy định tại khoản 2 Điều 16 của Bộ luật Lao động nên thuộc trường hợp hợp đồng lao động vô hiệu toàn bộ theo khoản 1 Điều 49 của Bộ luật Lao động.

Cơ quan Bảo hiểm xã hội thành phố U cung cấp thông tin về thời gian tham gia bảo hiểm xã hội của bà Nguyễn Thị Thanh Th tại Công ty TNHH Bouvrie I VN từ tháng 3/2012 đến tháng 7/2012. Do vậy, bà Nguyễn Thị Thanh Th yêu cầu Tòa án tuyên bố hợp đồng lao động ký kết từ tháng 3/2012 đến tháng 7/2012 với Công ty TNHH Bouvrie I VN vô hiệu là có căn cứ chấp nhận.

Về hậu quả của hợp đồng vô hiệu: Các đương sự xác định không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Tòa án không xem xét. Sau khi quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật, người lao động có quyền liên hệ cơ quan Bảo hiểm xã hội để được giải quyết các chế độ bảo hiểm xã hội theo quy định.

Các bên có quyền và nghĩa vụ liên hệ cơ quan có thẩm quyền để thực hiện các thủ tục liên quan đến bảo hiểm xã hội theo quy định của pháp luật.

Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát về nội dung việc lao động, các thủ tục tố tụng, quá trình tiến hành tố tụng cũng như diễn biến tại phiên họp là phù hợp với quy định của pháp luật.

Về lệ phí: Bà Nguyễn Thị Thanh Th phải chịu theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ các Điều 33, 39, 149, 367, 401, 402 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

- Căn cứ các Điều 15, 16, 49, 50 và 51 của Bộ luật Lao động;

- Căn cứ Điều 37 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Chấp nhận yêu cầu giải quyết việc lao động của bà Nguyễn Thị Thanh Th.

Tuyên bố hợp đồng lao động giữa bà Nguyễn Thị Thanh Th với Công ty Công ty TNHH Bouvrie I VN, thời gian làm việc từ tháng 3/2012 đến tháng 7/2012 bị vô hiệu.

Các bên có quyền và nghĩa vụ liên hệ cơ quan có thẩm quyền để thực hiện các thủ tục liên quan đến bảo hiểm theo quy định của pháp luật.

2. Lệ phí sơ thẩm giải quyết việc lao động: Bà Nguyễn Thị Thanh Th phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) được khấu trừ vào tiền tạm ứng đã nộp theo Biên lai thu số 0004717 ngày 28/11/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Tân Uyên, tỉnh Bình Dương.

3. Về quyền kháng cáo, kháng nghị: Các đương sự có quyền kháng cáo quyết định này trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày nhận được quyết định, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tân Uyên có quyền kháng nghị quyết định này trong thời hạn 10 ngày, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương có quyền kháng nghị quyết định này trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày Tòa án ra quyết định.

4. Trong trường hợp quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ