- Tranh chấp gì? Yêu cầu tuyên bố hợp đồng lao động, thỏa ước lao động tập thể vô hiệu — án lao động — "Nguyễn Thị T"
- Tòa quyết gì? Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về án phí, lệ phí Toà án:
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 149 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 15 Bộ luật Lao động
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN TỈNH BÌNH DƯƠNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 28/2024/QĐST-LĐ | Dĩ An, ngày 15 tháng 4 năm 2024 |
QUYẾT ĐỊNH
SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC LAO ĐỘNG
V/v yêu cầu tuyên bố hợp đồng lao động vô hiệu
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
Thành phần giải quyết việc dân sự gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: bà Phan Thị Hiền.
Thư ký phiên họp: ông Phạm Anh Ly - Thư ký Toà án.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương tham gia phiên họp: bà Nguyễn Thúy An - Kiểm sát viên.
Ngày 15 tháng 4 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân thành phố D mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc lao động thụ lý số: 46/2024/TLST-LĐ ngày 01 tháng 4 năm 2024 về việc “Yêu cầu tuyên bố hợp đồng lao động vô hiệu” theo Quyết định mở phiên họp sơ thẩm giải quyết việc lao động số: 12/2024/QĐST-LĐ ngày 10 tháng 4 năm 2024, gồm những người tham gia tố tụng sau đây:
Người yêu cầu: bà Nguyễn Thị T, sinh năm: 1991; địa chỉ: ấp H, xã H, huyện V, tỉnh Bạc Liêu, có yêu cầu giải quyết vắng mặt.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Công ty TNHH H; địa chỉ: khu công nghiệp B, phường A, thành phố D, tỉnh Bình Dương, vắng mặt.
2. Bà Nguyễn Thị T1, sinh năm: 1996; địa chỉ: số E N, phường A, thành phố D, tỉnh Bình Dương, có yêu cầu giải quyết vắng mặt.
3. Bảo hiểm xã hội thành phố D, tỉnh Bình Dương; địa chỉ: đường T, trung tâm hành chính D, phường D, thành phố D, tỉnh Bình Dương.
Người đại diện hợp pháp: ông Dương Văn T2, sinh năm 1988; địa chỉ: A khu phố T, phường T, thành phố D, tỉnh Bình Dương, là người đại diện theo ủy quyền (văn bản ủy quyền ngày 09/4/2024), có yêu cầu giải quyết vắng mặt.
NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ:
Tại đơn yêu cầu bà Nguyễn Thị T trình bày: từ tháng 5/2010 đến 01/2012, bà T làm việc tại Công ty cổ phần S, địa chỉ: khu công nghiệp B, phường A, thành phố D, tỉnh Bình Dương và có đóng bảo hiểm xã hội số: 9522147430. Nay bà T tiến hành điều chỉnh thông tin bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế thì Cơ quan bảo hiểm xã hội rà soát và phát hiện thông tin của bà T bị trùng.
Lý do bị trùng bảo hiểm: Tháng 05/2010, bà Nguyễn Thị T1 sử dụng thông tin của bà T giao kết Hợp đồng lao động với Công ty TNHH H. Trước đó vào tháng 4/2009 đến tháng 4/2017, bà T có giao kết hợp đồng lao động và làm việc tại Công ty cổ phần S.
Do đó, bà T bị trùng thời gian tham gia bảo hiểm từ tháng 05/2010 đến tháng 01/2012, đây là thời gian bà Nguyễn Thị Thiên m hồ sơ lao động của bà T. Nay bà T yêu cầu Tòa án tuyên bố hợp đồng lao động giữa bà Nguyễn Thị T1 và Công ty TNHH H từ tháng 05/2010 đến tháng 01/2012 là vô hiệu.
- Công ty TNHH H vắng mặt trong suốt quá trình tố tụng và không cung cấp văn bản trình bày ý kiến.
- Ông Dương Văn T2 là người đại diện hợp pháp của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Bảo hiểm xã hội thành phố D, tỉnh Bình Dương trình bày: Qua kiểm tra đối chiếu dữ liệu tham gia BHXH, bảo hiểm y tế (BHYT), bảo hiểm thất nghiệp (BHTN) của Công ty TNHH H cho người lao động thì Công ty TNHH H có tham gia BHXH, BHYT, BHTN cho bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1991, số CMND xxxxxxxxx (CCCD xxxxxxxxxxxx), với mã số BHXH 7410134940 từ tháng 05/2010 đến tháng 01/2012 chưa nhận trợ cấp BHXH và BHTN.
Ngoài ra, bà T còn có mã số 9522147430 tham gia BHXH từ tháng 4/2019 đến tháng 3/2024 tại công ty TNHH F (Việt Nam) (chưa nhận trợ cấp BHXH và BHTN). Mã số 7409159039 tham gia BHXH tại Công ty Cổ phần S từ tháng 4/2009 đến tháng 02/2017 và từ tháng 5/2017 đến tháng 6/2018 tại Công ty TNHH P.
Về hợp đồng lao động, giấy tờ tùy thân của bà Nguyễn Thị T, BHXH không có lưu trữ những hồ sơ này. Về các yêu cầu khác của bà Nguyễn Thị T phía Bảo hiểm xã hội thành phố D, tỉnh Bình Dương không có ý kiến.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị T1 trình bày: Vào thời điểm 2010, bà T1 chưa đủ 18 tuổi và có mượn hồ sơ của chị gái Nguyễn Thị T làm hồ sơ xin việc vì cả hai không hiểu biết về pháp luật, chỉ vì kế sinh nhai nên mới để lại hậu quả pháp lý như ngày hôm nay. Đối với yêu cầu của bà bà T, bà T1 không có ý kiến, đề nghị Tòa án xem xét, giải quyết theo đúng quy định của pháp luật.
Tại phiên họp, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An phát biểu ý kiến về việc giải quyết việc dân sự và đề nghị:
Quá trình tố tụng, Thẩm phán, Thư ký phiên tòa và đương sự đã chấp hành theo đúng quy định của pháp luật.
Về nội dung: xét thấy, yêu cầu của người yêu cầu là có căn cứ, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà T3.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát, Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương nhận định:
Về thủ tục tố tụng: Bà T, bà T1, Bảo hiểm xã Hội thành phố D có yêu cầu giải quyết vắng mặt, Công ty TNHH H đã được Tòa án triệu tập tham gia phiên họp nhưng vắng mặt. Căn cứ Điều 367 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành phiên họp vắng mặt các đương sự.
Về nội dung: Quá trình tố tụng, các đương sự khai thống nhất: trong thời gian từ tháng 05/2010 đến tháng 01/2012, người lao động tên Nguyễn Thị T, sinh ngày 09/02/1991, số căn cước công dân xxxxxxxxxxxx được Công ty TNHH H tham gia bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp với mã số bảo hiểm xã hội là 7410134940. Quan hệ lao động giữa Công ty TNHH H và bà Nguyễn Thị T phát sinh từ hợp đồng lao động tháng 5/2010. Tuy nhiên, bà Nguyễn Thị T và bà Nguyễn Thị T1 thừa nhận người ký hợp đồng lao động với Công ty TNHH H và thực tế làm việc tại Công ty T4 khoảng thời gian từ tháng 05/2010 đến tháng 01/2012 theo hợp đồng lao động là bà Nguyễn Thị T1 chứ không phải bà Nguyễn Thị T do bà T1 mượn chứng minh nhân dân, giấy tờ của bà T để đi làm việc. Đối với bà T1 trong thời gian này đang thực tế làm việc tại Công ty Cổ phần S. Mục đích mượn giấy tờ là để bà T1 có việc làm do thời gian này bà T1 chưa đủ 18 tuổi. Trình bày của bà T và bà T1 phù hợp với hồ sơ bảo hiểm xã hội thể hiện, trong thời gian từ tháng 5/2010 đến tháng 01/2012, bà Nguyễn Thị T có quá trình tham gia bảo hiểm xã hội tại Công ty TNHH S. Xét thấy, việc bà T1 lấy tên bà T để giao kết hợp đồng lao động là hành vi lừa dối về mặt chủ thể khi xác lập giao dịch dân sự, vi phạm nguyên tắc tự nguyện, bình đẳng, hợp tác, tôn trọng quyền và lợi ích hợp pháp của nhau khi xác lập quan hệ lao động. Do đó việc bà Nguyễn Thị T yêu cầu tuyên vô hiệu hợp đồng lao động từ tháng 5/2010 đến tháng 01/2012 giữa bà Nguyễn Thị T (do bà Nguyễn Thị Thiên m tên) với Công ty TNHH H là có căn cứ theo quy định tại Điều 127, Điều 132 Bộ luật Dân sự năm 2005, các đương sự khác cũng thống nhất, không có tranh chấp. Quá trình làm việc, Bảo hiểm xã hội thành phố D, tỉnh Bình Dương đã cung cấp thông tin về thời gian đóng bảo hiểm xã hội của bà Nguyễn Thị T bị trùng từ tháng 05/2010 đến tháng 01/2012. Do đó, bà T yêu cầu tuyên bố hợp đồng lao động được ký kết giữa Công ty TNHH H với bà T (do bà T1 sử dụng thông tin của bà T để ký) từ tháng 05/2010 đến tháng 01/2012 có cơ sở chấp nhận.
Về hậu quả của hợp đồng vô hiệu: các đương sự xác định không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét. Sau khi Quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật, người lao động có quyền liên hệ cơ quan Bảo hiểm xã hội để được giải quyết các chế độ bảo hiểm xã hội theo quy định.
Các bên có quyền và nghĩa vụ liên hệ cơ quan có thẩm quyền để thực hiện các thủ tục liên quan đến bảo hiểm theo quy định của pháp luật.
Về lệ phí: bà Nguyễn Thị T phải chịu theo quy định.
Ý kiến và đề nghị của kiểm sát viên tại phiên họp phù hợp với nhận định của Tòa án nên chấp nhận.
Từ các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 15, 16, 49 của Bộ luật lao động;
Điều 149, 367, 401, 402 của Bộ luật tố tụng dân sự;
Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về án phí, lệ phí Toà án:
1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu giải quyết việc lao động của bà Nguyễn Thị T.
Tuyên bố hợp đồng lao động giữa bà Nguyễn Thị T, sinh năm: 1991, địa chỉ: ấp H, xã H, huyện V, tỉnh Bạc Liêu (do bà Nguyễn Thị T1 ký kết) với Công ty TNHH H (từ tháng 05/2010 đến tháng 01/2012) là vô hiệu.
Các bên có quyền và nghĩa vụ liên hệ cơ quan có thẩm quyền để thực hiện các thủ tục liên quan đến bảo hiểm theo quy định của pháp luật.
2. Lệ phí sơ thẩm giải quyết việc lao động: bà Nguyễn Thị T phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng, được khấu trừ tiền tạm ứng đã nộp theo biên lai thu số: 0002671 ngày 25/3/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương.
3. Người yêu cầu, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo trong thời hạn 10 (mười) ngày, kể từ ngày nhận được quyết định hoặc kể từ ngày quyết định được thông báo, niêm yết. Viện kiểm sát cùng cấp có quyền kháng nghị quyết định giải quyết trong thời hạn 10 (mười) ngày, Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp có quyền kháng nghị trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày Tòa án ra quyết định.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Bình Dương; - VKSND thành phố Dĩ An; - Chi cục Thi hành án Dĩ An; - Các đương sự; - Hồ sơ; - Lưu./. | THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊNHỌP Phan Thị Hiền |