vanban.org

Quyết định 28/2023/QĐST-HNGĐ — Yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn...

TAND tỉnh Hải Dương Tuyên án 14/04/2023 Hôn nhân và gia đình Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Công nhận sự thuận tình ly hôn giữa chị Nguyễn Thị X và anh Nguyễn Văn T.

Về con chung: Công nhận sự thỏa thuận của chị Nguyễn Thị X và anh Nguyễn Văn T, giao các con chung Nguyễn Đức Quang H, sinh ngày 04/9/2009 và Nguyễn Đức Quang H1, sinh ngày 07/5/2011 cho chị X trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi con thành niên (tròn 18 tuổi). Chấp nhận sự tự nguyện… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn... — án hôn nhân và gia đình — "Nguyễn Thị X - Nguyễn Văn T"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Công nhận sự thuận tình ly hôn giữa chị Nguyễn Thị X và anh Nguyễn Văn T.
  • Căn cứ chính? Điều 149 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 29 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 367 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH HẢI DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

_____________
Số: 28/2023/QĐST-HNGĐ
Hải Dương, ngày 14 tháng 4 năm 2023

QUYẾT ĐỊNH

SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ

V/v Yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn, thỏa thuận về nuôi con.

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG

Thành phần giải quyết việc dân sự gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Ông Nguyễn Xuân Trường.

Thư ký phiên họp: Bà Vũ Thị Huyền - Thư ký Tòa án.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hải Dương tham gia phiên họp: Ông Nguyễn Văn Tưởng - Kiểm sát viên.

Ngày 14 tháng 4 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số 71/2023/TB-TA ngày 02 tháng 3 năm 2023, về việc: “Yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn, thỏa thuận về nuôi con”, theo Quyết định mở phiên họp sơ thẩm giải quyết việc dân sự số 89/2023/QĐST-HNGĐ ngày 31 tháng 3 năm 2023, gồm những người tham gia tố tụng sau đây:

* Người yêu cầu giải quyết việc dân sự:

1. Chị Nguyễn Thị X, sinh ngày 09/10/1986.

ĐKHKTT và chỗ ở hiện nay: Thôn D, xã L, huyện S, tỉnh Hải Dương.

2. Anh Nguyễn Văn T, sinh ngày 13/6/1983.

Địa chỉ trước khi xuất cảnh: Thôn D, xã L, huyện S, tỉnh Hải Dương.

Nơi cư trú hiện nay: Oranienburger Str. 285, 13437 Berlin, Cộng hòa liên bang Đức.

Người được anh T ủy quyền về việc giao, nhận văn bản của Tòa án: Chị Nguyễn Thị T1, sinh năm 1973.

Địa chỉ: Thôn D, xã L, huyện S, tỉnh Hải Dương.

(Chị X, anh T vắng mặt và đều có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt).

NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ:

Theo đơn yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn; Bản tự khai; Giấy ủy quyền; Đơn đề nghị giải quyết vắng mặt của chị Nguyễn Thị X và anh Nguyễn Văn T cùng các tài liệu có trong hồ sơ thể hiện:

Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị X và anh Nguyễn Văn T được tự do tìm hiểu, tự nguyện đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã L, huyện S, tỉnh Hải Dương vào ngày 08/12/2008. Vợ chồng chung sống hạnh phúc được khoảng 7 năm thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do anh, chị không có tiếng nói chung, bất đồng về quan điểm sống cũng như tình cảm và kinh tế gia đình. Vợ chồng thường xuyên xảy ra cãi nhau và có thời gian dài sống ly thân, hai bên gia đình đã nhiều lần hòa giải nhưng không có kết quả. Tháng 10/2017, anh T đi xuất cảnh lao động tại Cộng hòa liên bang Đức, từ khi đi đến nay anh chưa về nước. Vợ chồng mỗi người sống một nơi, không ai quan tâm đến ai. Nay chị X, anh T cùng xác định tình cảm vợ chồng không còn và thống nhất đề nghị Tòa án công nhận thuận tình ly hôn.

Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung là Nguyễn Đức Quang H, sinh ngày 04/9/2009 và Nguyễn Đức Quang H1, sinh ngày 07/5/2011, hiện các con đang ở với chị X. Chị X và anh T cùng thống nhất giao các con chung cho chị X chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến khi các con thành niên (tròn 18 tuổi). Chị X tự nguyện không yêu cầu anh T phải cấp dưỡng tiền nuôi con chung.

Về tài sản chung, nợ chung: Chị X, anh T cùng xác định không yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết.

Về lệ phí giải quyết việc dân sự: Chị X tự nguyện chịu toàn bộ lệ phí giải quyết việc dân sự theo quy định của pháp luật.

Anh Nguyễn Văn T hiện đang sinh sống tại Cộng hòa liên bang Đức nên anh ủy quyền cho bà Nguyễn Thị T1 thay anh giao, nhận các tài liệu tại Tòa án. Bà Tuyến nhất trí nhận ủy quyền của anh T. Sau khi nhận được các văn bản tố tụng của Tòa án, bà Tuyến đã thông báo cho anh T biết; anh T vẫn giữ nguyên quan điểm như đã trình bày.

Do điều kiện nên chị Nguyễn Thị X và anh Nguyễn Văn T không trực tiếp tham gia tố tụng tại Tòa án được anh, chị đều có đơn đề nghị Tòa án giải quyết vắng mặt.

Con chung của chị X, anh T là cháu Nguyễn Đức Quang H có nguyện vọng được ở với chị X và cháu Nguyễn Đức Quang H1 có nguyện vọng được ở với anh T.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hải Dương có quan điểm:

Về việc tuân theo pháp luật: Thẩm phán, Thư ký và các đương sự đã chấp hành đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về việc giải quyết vụ việc: Căn cứ Điều 55, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 149 Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Đề nghị Tòa án công nhận sự thuận tình ly hôn giữa chị Nguyễn Thị X và anh Nguyễn Văn T. Giao các con chung Nguyễn Đức Quang H, sinh ngày 04/9/2009 và Nguyễn Đức Quang H1, sinh ngày 07/5/2011 cho chị X nuôi dưỡng cho đến khi các con thành niên. Chấp nhận sự tự nguyện của chị X không yêu cầu anh T phải cấp dưỡng tiền nuôi con chung. Chị X tự nguyện chịu cả lệ phí giải quyết việc dân sự sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự, quan điểm của các đương sự, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hải Dương tại phiên họp, Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương nhận định:

. Về tố tụng: Chị Nguyễn Thị X và anh Nguyễn Văn T có đơn đề nghị Tòa án công nhận thuận tình ly hôn. Chị X hiện đang cư trú tại Việt Nam, anh T hiện đang cư trú tại Oranienburger Str. 285, 13437 Berlin, Cộng hòa liên bang Đức, nơi cư trú trước khi xuất cảnh tại thôn D, xã L, huyện S, tỉnh Hải Dương. Do vậy, vụ việc thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương. Quá trình giải quyết chị X và anh T đều có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt. Anh T không về Việt Nam tham gia tố tụng nhưng anh đã gửi đơn xin ly hôn, bản tự khai, đơn xin xét xử vắng mặt và giấy ủy quyền đến Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương. Các tài liệu này đã được Đại sứ quán Việt Nam tại CHLB Đức chứng thực. Do vậy, có đủ cơ sở khẳng định nội dung trong các văn bản mà anh T gửi về đúng là ý chí, nguyện vọng của anh T. Do các bên đương sự đều đề nghị xin được vắng mặt nên căn cứ khoản 2 Điều 367 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án quyết định mở phiên họp giải quyết việc dân sự vắng mặt các đương sự.

. Về nội dung:

Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị X và anh Nguyễn Văn T được tự do tìm hiểu và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã L, huyện S, tỉnh Hải Dương ngày 08/12/2008 là hôn nhân hợp pháp. Vợ chồng chung sống hạnh phúc được khoảng 7 năm thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do bất đồng về quan điểm sống, vợ chồng không có tiếng nói chung nên thường xuyên xảy ra cãi nhau và đã có thời gian dài sống ly thân. Mâu thuẫn của anh chị đã được hai bên gia đình khuyên bảo, hòa giải nhưng không có kết quả. Tháng 10/2017, anh T đi xuất cảnh lao động tại Cộng hòa liên bang Đức đến nay anh chưa về nước, vợ chồng mỗi người sống một nơi, không ai quan tâm đến ai. Nay chị X và anh T đều xác định tình cảm vợ chồng không còn nên thống nhất đề nghị Tòa án công nhận thuận tình ly hôn. Xét thấy, mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được nên cần chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị X và anh T.

Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung là Nguyễn Đức Quang H, sinh ngày 04/9/2009 và Nguyễn Đức Quang H1, sinh ngày 07/5/2011. Con chung Nguyễn Đức Quang H có nguyện vọng được ở với chị X; con chung Nguyễn Đức Quang H1 có nguyện vọng được ở với anh T. Tuy nhiên, hiện tại các con đang ở với chị X ổn định, anh T không có mặt tại Việt Nam nên không đủ điều kiện để trực tiếp chăm sóc con chung. Hơn nữa, chị X và anh T cùng thống nhất giao các con chung cho chị X trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi các con thành niên (tròn 18 tuổi). Chị X tự nguyện không yêu cầu anh T phải cấp dưỡng tiền nuôi con chung. Xét thấy, thỏa thuận của các đương sự phù hợp với thực tế, phù hợp với quy định tại Điều 81, 82, 83 Luật Hôn nhân gia đình và không trái đạo đức xã hội, nên cần chấp nhận sự thỏa thuận của các đương sự.

Về tài sản chung, nợ chung: Chị X, anh T cùng thống nhất không yêu cầu nên Hội đồng không xem xét giải quyết.

. Về lệ phí: Chấp nhận sự tự nguyện của chị X tự nguyện chịu cả lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự theo quy định của pháp luật.

Vì những lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng Điều 55, 81, 82 và 83 Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 2 Điều 29, điểm b khoản 1 Điều 37, Điều 149, Điều 367 Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 3 Điều 37 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Về quan hệ hôn nhân: Công nhận sự thuận tình ly hôn giữa chị Nguyễn Thị X và anh Nguyễn Văn T.

2. Về con chung: Công nhận sự thỏa thuận của chị Nguyễn Thị X và anh Nguyễn Văn T, giao các con chung Nguyễn Đức Quang H, sinh ngày 04/9/2009 và Nguyễn Đức Quang H1, sinh ngày 07/5/2011 cho chị X trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi con thành niên (tròn 18 tuổi). Chấp nhận sự tự nguyện của chị X tự nguyện không yêu cầu anh T phải cấp dưỡng tiền nuôi con chung.

Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

2. Về tài sản chung, nợ chung: Không xem xét giải quyết.

3. Về lệ phí: Chị Nguyễn Thị X tự nguyện chịu cả 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự, được đối trừ số tiền tạm ứng lệ phí 300.000đ theo biên lai thu số AA/2021/0003958 ngày 01/3/2023 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Hải Dương. Chị X đã nộp đủ lệ phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm.

4. Quyết định này có hiệu lực pháp luật ngay sau khi được ban hành và không bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm./.

Cỡ chữ