vanban.org

Quyết định 28/2021/QĐHG-HNGĐ — Yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn...

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Công nhận kết quả hòa giải thành tại Tòa án giữa các bên hòa giải: Bà Phạm Thị L, sinh năm 1969, trú tại: Thôn P, xã T, huyện A, thành phố Hải Phòng và ông Đặng Văn U, sinh năm 1967, trú tại: Thôn P, xã T, huyện A, thành phố Hải Phòng.

Công nhận kết quả hòa giải thành tại Tòa án của các bên cụ thể như sau: Về quan hệ hôn nhân: Bà Phạm Thị L và ông Đặng Văn U thuận tình ly hôn. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn... — án hôn nhân và gia đình — "Phạm Thị L - Đặng Văn U"
  • Tòa quyết gì? Công nhận kết quả hòa giải thành tại Tòa án giữa các bên hòa giải: Bà Phạm Thị L, sinh năm 1969, trú tại: Thôn P, xã T, huyện A, thành phố Hải Phòng và ông Đặng Văn U, sinh năm 1967, trú tại: Thôn P, xã T, huyện A, thành phố Hải Phòng.
  • Căn cứ chính? Điều 32 Luật Hòa giải, đối thoại tại Tòa án; Điều 33 Luật Hòa giải, đối thoại tại Tòa án; Điều 34 Luật Hòa giải, đối thoại tại Tòa án
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN AN LÃO
THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 28/2021/QĐHG-HNGĐAn Lão, ngày 26 tháng 4 năm 2021

QUYẾT ĐỊNH

CÔNG NHẬN KẾT QUẢ HÒA GIẢI THÀNH TẠI TÒA ÁN

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN LÃO, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

Thẩm phán ra quyết định: Ông Nguyễn Tuấn Anh

Căn cứ Điều 55, Điều 81, Điều 82, Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình;

Căn cứ vào Điều 32, Điều 33, Điều 34, Điều 35 và Điều 36 của Luật Hòa giải, đối thoại tại Tòa án;

Căn cứ Biên bản ghi nhận kết quả hòa giải tại Tòa án ngày 12 tháng 4 năm 2021, về việc các bên thỏa thuận được với nhau về giải quyết toàn bộ việc "Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn" giữa:

Người yêu cầu:

- Bà Phạm Thị L, sinh năm 1969, trú tại: Thôn P, xã T, huyện A, thành phố Hải Phòng.

- Ông Đặng Văn U, sinh năm 1967, trú tại: Thôn P, xã T, huyện A, thành phố Hải Phòng.

Sau khi nghiên cứu Biên bản ghi nhận kết quả hòa giải tại Tòa án cùng tài liệu kèm theo do Hòa giải viên chuyển sang Tòa án,

XÉT THẤY:

Nội dung thỏa thuận, thống nhất của các bên được ghi trong Biên bản ghi nhận kết quả hòa giải tại Tòa án đã có đủ điều kiện quy định tại Điều 33 Luật Hòa giải, đối thoại tại Tòa án.

Đã hết thời hạn 15 ngày, kể từ ngày Tòa án nhận được Biên bản ghi nhận kết quả hòa giải và tài liệu kèm theo, không có bên nào ý kiến về sự thỏa thuận đó.

QUYẾT ĐỊNH:

1. Công nhận kết quả hòa giải thành tại Tòa án giữa các bên hòa giải: Bà Phạm Thị L, sinh năm 1969, trú tại: Thôn P, xã T, huyện A, thành phố Hải Phòng và ông Đặng Văn U, sinh năm 1967, trú tại: Thôn P, xã T, huyện A, thành phố Hải Phòng.

2. Công nhận kết quả hòa giải thành tại Tòa án của các bên cụ thể như sau:

- Về quan hệ hôn nhân: Bà Phạm Thị L và ông Đặng Văn U thuận tình ly hôn.

- Về con chung: Bà Phạm Thị L và ông Đặng Văn U có 03 con chung là Đặng Kim A, sinh năm 1992, Đặng Minh T, sinh năm 1995 và Đặng Thị Huyền C, sinh ngày 28/4/2004. Con Đặng Kim A và Đặng Minh T đã trưởng thành nên không đặt ra vấn đề nuôi dưỡng. Ông bà thỏa thuận giao con Đặng Thị Huyền C cho bà Phạm Thị L nuôi dưỡng cho đến khi con trưởng thành đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật. Tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi con chung đối với ông Đặng Văn U.

Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

- Về tài sản chung: Bà Phạm Thị L và ông Đặng Văn U thống nhất tự thỏa thuận nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về lệ phí Tòa án: Bà Phạm Thị L và ông Đặng Văn U không phải nộp lệ phí yêu cầu Tòa án công nhận kết quả hòa giải theo quy định của pháp luật.

3. Quyết định này có hiệu lực pháp luật, không bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự và được thi hành theo quy định của pháp luật về thi hành án dân sự.

4. Các bên, người đại diện hoặc người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến quyết định của Tòa án có quyền đề nghị xem xét lại quyết định này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được hoặc biết được quyết định.

5. Viện Kiểm sát cùng cấp có quyền kiến nghị xem xét lại quyết định này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được quyết định của Tòa án.

Cỡ chữ