- Tranh chấp gì? Yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn... — án hôn nhân và gia đình — "Quyết định công nhận thuận tình ly hôn và sự thỏa thuận của các đương sự"
- Tòa quyết gì? Công nhận sự thuận tình ly hôn và sự thỏa thuận của các đương sự cụ thể như sau:
- Căn cứ chính? Luật Phí và lệ phí; Điều 212 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 213 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN ĐỒ SƠN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 27/2019/QĐST-HNGĐ | Đồ Sơn, ngày 19 tháng 4 năm 2019 |
QUYẾT ĐỊNH
CÔNG NHẬN THUẬN TÌNH LY HÔN
VÀ SỰ THỎA THUẬN CỦA CÁC ĐƯƠNG SỰ
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN ĐỒ SƠN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
Căn cứ vào các điều 212, 213, khoản 4 Điều 397 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ vào các điều 55, 81, 82 và 83 của Luật Hôn nhân và gia đình;
Căn cứ Luật Phí và lệ phí năm 2015;
Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Sau khi nghiên cứu hồ sơ việc dân sự thụ lý số 44/2019/TLST-HNGĐ ngày 11 tháng 4 năm 2019 về việc yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn, thỏa thuận nuôi con, gồm những người tham gia tố tụng sau đây:
Người yêu cầu giải quyết việc dân sự:
- Chị Đặng Thị N, nơi cư trú: Tổ dân phố C, phường N, quận Đ, thành phố Hải Phòng;
- Anh Nguyễn Văn T, nơi cư trú: Tổ dân phố C, phường N, quận Đ, thành phố Hải Phòng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Về quan hệ hôn nhân: Chị Đặng Thị N và anh Nguyễn Văn T xây dựng hạnh phúc trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại UBND phường Ngọc Xuyên, Đồ Sơn, Hải Phòng, giấy chứng nhận kết hôn số 017 ngày 10-10-1996. Theo quy định tại Điều 5 và Điều 8 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 1986, đây là quan hệ hôn nhân hợp pháp. Anh chị chung sống hòa thuận được 15 năm thì phát sinh mâu thuẫn; nguyên nhân là do phong cách sống của anh chị không còn phù hợp dẫn đến bất đồng quan điểm về mọi mặt và thường xuyên xảy ra việc cãi vã, xô xát, xúc phạm lẫn nhau. Mặc dù bản thân anh chị đã nhiều lần cố gắng khắc phục và được gia đình hai bên tác động, khuyên giải nhưng không có kết quả. Xét thấy, tình trạng hôn nhân giữa chị N và anh T mâu thuẫn đã trầm trọng, đời sống chung không còn tồn tại. Vì vậy, việc chị N và anh T thuận tình ly hôn được ghi nhận trong Biên bản thuận tình ly hôn, thỏa thuận việc nuôi con ngày 11 tháng 4 năm 2019, là thực sự tự nguyện, cần được chấp nhận.
Về con chung: Chị N và anh T có 02 con chung là Nguyễn Đặng S, sinh ngày 12-01-1993 và Nguyễn Đặng Việt H, sinh ngày 04-8-2002. Cháu S đã trưởng thành nên chị N và anh T không yêu cầu Tòa án giải quyết. Nay anh, chị tự thỏa thuận việc trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con, chị N nhận nuôi cháu H; nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung, anh chị tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Việc thỏa thuận của hai bên là tự nguyện và đảm bảo được quyền lợi chính đáng của con, cần được chấp nhận.
Về tài sản chung: Chị N và anh T không yêu cầu Tòa án giải quyết. Vì vậy, Tòa án không xem xét.
Về lệ phí Tòa án: Chị N và anh T thỏa thuận giao cho chị N nộp 300.000 đồng lệ phí dân sự sơ thẩm. Căn cứ khoản 3 Điều 37 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án, cần chấp nhận sự thỏa thuận của chị N và anh T về lệ phí Tòa án.
Việc thuận tình ly hôn và thỏa thuận của các đương sự được ghi trong Biên bản thuận tình ly hôn, thỏa thuận việc nuôi con ngày 11 tháng 4 năm 2019, là hoàn toàn tự nguyện và không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội.
Đã hết thời hạn 07 ngày, kể từ ngày lập Biên bản hòa giải đoàn tụ không thành, Biên bản thuận tình ly hôn, thỏa thuận việc nuôi con mà không có đương sự nào ý kiến về sự thỏa thuận đó.
QUYẾT ĐỊNH:
1. Công nhận sự thuận tình ly hôn và sự thỏa thuận của các đương sự cụ thể như sau:
- Về quan hệ hôn nhân: Chị Đặng Thị N và anh Nguyễn Văn T thuận tình ly hôn.
- Về con chung: Chị N và anh T có 02 con chung là cháu Nguyễn Đặng S, sinh ngày 12-01-1993 và cháu Nguyễn Đặng Việt H, sinh ngày 04-8-2002. Cháu S đã trưởng thành nên chị N và anh T không yêu cầu Tòa án giải quyết. Chị N và anh T thống nhất giao cháu H cho chị N nuôi dưỡng cho đến khi cháu đủ 18 tuổi; về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con, anh chị tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết hoặc cho đến khi có sự thay đổi khác về người trực tiếp nuôi con, về cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.
Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
- Về tài sản chung: Chị N và anh T không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về các vấn đề khác: Không.
2. Về lệ phí Tòa án: Chị N nhận nộp lệ phí dân sự sơ thẩm là 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng lệ phí dân sự sơ thẩm mà anh đã nộp là 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng, theo Biên lai số: 0006968 ngày 11 tháng 4 năm 2019 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Đồ Sơn, thành phố Hải Phòng; chị N đã nộp đủ lệ phí dân sự sơ thẩm.
3. Quyết định này có hiệu lực pháp luật ngay sau khi được ban hành và không bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm.
| Nơi nhận: - Đương sự; - TAND TP Hải Phòng; - VKSND quận Đồ Sơn; - Chi cục THADS quận Đồ Sơn; - UBND phường Ngọc Xuyên; - Lưu: Hồ sơ việc dân sự, HCTP. | THẨM PHÁN Lưu Văn Năm |