vanban.org

Quyết định 264/2025/QĐST-LĐ — Yêu cầu tuyên bố hợp đồng lao động, thỏa ước lao động tập thể vô hiệu

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

39;Điều 146; Điều 149; Điều 361; Điều 366; Điều 367; Điều 370; Điều 371; Điều 372; Điều 401 và Điều 402 c a Bộ luật Tố tụng dân sự;

Bộ luật Lao động năm 2012; Bộ luật Lao động năm 2019; Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Yêu cầu tuyên bố hợp đồng lao động, thỏa ước lao động tập thể vô hiệu — án lao động — "TRAN THI H"
  • Tòa quyết gì? 39;Điều 146; Điều 149; Điều 361; Điều 366; Điều 367; Điều 370; Điều 371; Điều 372; Điều 401 và Điều 402 c a Bộ luật Tố tụng dân sự;
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Lao động; Điều 402 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 52 Bộ luật Lao động
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 16 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Số: 264/2025/QĐST-LĐ
Tp. Hồ Chí Minh, ngày 13 tháng 11 năm 2025

QUYẾT ĐỊNH

SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC LAO ĐỘNG

V/v yêu cầu tuyên bố hợp đồng lao động vô hiệu

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 16 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Thành phần giải quyết việc lao động gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Bà Võ Thị Thu Thảo

Thư ký phiên họp: Ông Trần Hồng Sơn – Thư ký Tòa án nhân dân khu vực

16 , Thành phố Hồ Chí Minh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 16 - Thành phố Hồ Chí Minh

tham gia phiên họp: Bà Nguyễn Thị Hạnh – Kiểm sát viên.

Ngày 13 tháng 11 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân khu vực 16 – Thành

phố Hồ Chí Minh mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc lao động thụ lý số: 372/2025/LĐ-ST ngày 27 tháng 10 năm 2025 về việc “Yêu cầu tuyên bố hợp đồng lao động vô hiệu” theo Quyết định mở phiên họp sơ thẩm giải quyết việc lao động số: 225/2025/QĐST-LĐ ngày 07 tháng 11 năm 2025, gồm những người tham gia tố tụng sau đây:

- Người yêu cầu: Bà Trần Thị H, sinh năm 1984; địa chỉ: xóm A, xã Q, tỉnh

Nghệ An; địa chỉ liên hệ: 1 B, khu phố B, phường L, Thành phố Hồ Chí Minh, có yêu cầu giải quyết vắng mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. Bà Hồ Thị N, sinh năm 1992; địa chỉ thường trú: ấp A, xã N, tỉnh Cà Mau,

có yêu cầu giải quyết vắng mặt.

2. Công ty TNHH F; địa chỉ: Lô D, đường D, KCN V, phường T, Thành phố

Hồ Chí Minh, vắng mặt.

3. Công ty Cổ phần C; địa chỉ: Đại Lộ B, khu phố B, phường T, Thành phố

Hồ Chí Minh, vắng mặt.

4. Bảo hiểm xã hội cơ sở T; địa chỉ: khu phố E, phường T, Thành phố Hồ

Chí Minh, vắng mặt.

5. Bảo hiểm xã hội cơ sở L; địa chỉ: đường N, khu phố B, phường L, Thành

phố Hồ Chí Minh, có yêu cầu giải quyết vắng mặt.

NỘI DUNG VIỆC LAO ĐỘNG:

- Theo đơn yêu cầu giải quyết việc lao động và lời khai trong quá trình giải

quyết bà Trần Thị H trình bày: Khoảng tháng 9 năm 2025, bà Trần Thị H đi làm th tục tại Bảo hiểm xã hội th được biết bảo hiểm xã hội c a bà H bị tr ng trong các khoảng thời gian t tháng 5/2008 đến tháng 8/2008; t tháng 5/2009 đến tháng 8/2009 và t tháng 8/2009 đến tháng 10/2009. Nguyên nhân bị tr ng bảo hiểm xã hội là do vào khoảng tháng 5/2008 bà Trần Thị H có cho bà Hồ Thị N mượn chứng minh nhân dân để ký kết hợp đồng lao động với Công ty TNHH F, quá trình làm việc bà Hồ Thị N được Công ty TNHH F tham gia bảo hiểm xã hội với số sổ bảo hiểm là 7408145117. C ng với đó, trong khoảng thời gian tháng 8/2009 bà Trần Thị H tiếp tục cho bà Hồ Thị N mượn chứng minh nhân dân để ký kết hợp đồng lao động và làm việc tại Công ty Cổ phần C và được Công ty Cổ phần C tham gia bảo hiểm xã hội với mã số bảo hiểm là 7409098224. V thiếu hiểu biết, nghĩ rằng việc cho bà Hồ Thị N mượn chứng minh nhân dân để ký kết hợp đồng lao động với Công ty TNHH F và Công ty Cổ phần C là không vi phạm g mà chỉ mong muốn cho bà Hồ Thị N có công việc để trang trải cuộc sống. V vậy, bà H yêu cầu Tòa án tuyên bố hai hợp đồng lao động được ký kết giữa bà Trần Thị H với Công ty TNHH F và giữa bà Trần Thị H với Công ty Cổ phần C là vô hiệu, bà Trần Thị H không yêu cầu Tòa án giải quyết hậu quả khi tuyên hợp đồng vô hiệu.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Hồ Thị N trình bày: Bà và bà H

có mối quan hệ chị em họ. Trong, khoảng tháng 5 năm 2008 đến tháng 8/2008, do bà chưa đ tuổi lao động nên đã mượn chứng minh nhân dân c a bà H để xin vào làm việc tại Công ty TNHH F. Sau đó, trong khoảng thời gian t tháng 5/2009 đến tháng 8/2009 bà N tiếp tục mượn chứng minh nhân dân c a bà Trần Thị H để xin vào làm việc tại Công ty TNHH F. Do đó trong hai khoảng thời gian t tháng 5/2008 đến tháng 8/2008 và t tháng 5/2009 đến tháng 8/2009 bà được Công ty TNHH F tham gia bảo hiểm xã hội với c ng một mã số là 7408145117. Đồng thời, khoảng thời gian tháng 8/2009 bà N tiếp tục mượn chứng minh nhân dân c a bà Trần Thị H để xin vào làm việc tại Công ty Cổ phần C, bà được Công ty C t tháng 8/2009 đến tháng 10/2009 với số sổ bảo hiểm xã hội là 7409098224. Nay bà Hồ Thị N thống nhất toàn bộ yêu cầu c a bà H là đề nghị Tòa án tuyên bố hợp đồng lao động giữa bà Trần Thị H với Công ty TNHH F và hợp đồng lao động giữa bà Trần Thị H với Công ty Cổ phần C là vô hiệu. Sau khi kết thúc hợp đồng lao động với Công ty TNHH F và Công ty Cổ phần C th bà chưa nhận trợ cấp bảo hiểm g , bà cũng không yêu cầu g liên quan đến bảo hiểm trong trường hợp Tòa án chấp nhận yêu cầu c a bà H, bà Hồ Thị N không yêu cầu giải quyết hậu quả c a hợp đồng vô hiệu.

- Công Ty TNHH F trình bày: Công ty TNHH F đã được Tòa án thông báo và

tống đạt các văn bản tố tụng để tham gia tố tụng trong quá tr nh giải quyết vụ án theo đúng quy định tại các Điều 178; Điều 366; Điều 367; Điều 369 c a Bộ luật Tố tụng dân sự. Tuy nhiên Công ty TNHH F đều vắng mặt không rõ lý do.

- Công Ty Cổ Phần C: Công ty Cổ phần C đã được Tòa án thông báo và tống

đạt các văn bản tố tụng để tham gia tố tụng trong quá tr nh giải quyết vụ án theo đúng quy định tại các Điều 178; Điều 366; Điều 367; Điều 369 c a Bộ luật Tố tụng dân sự. Tuy nhiên Công ty Cổ phần C đều vắng mặt không rõ lý do.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Bảo hiểm xã hội cơ sở T: Bảo hiểm

xã hội cơ sở T đã được Tòa án thông báo và tống đạt các văn bản tố tụng để tham gia tố tụng trong quá tr nh giải quyết vụ án theo đúng quy định tại các Điều 178; Điều 366; Điều 367; Điều 369 c a Bộ luật Tố tụng dân sự. Tuy nhiên Bảo hiểm xã hội cơ sở T đều vắng mặt không rõ lý do.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Bảo hiểm xã hội cơ sở L (viết tắt là

BHXH) trình bày: Qua kiểm tra đối chiếu dữ liệu tham gia BHXH, bảo hiểm y tế (BHYT), bảo hiểm thất nghiệp (BHTN) c a Công ty TNHH F cho người lao động thì Công ty có tham gia BHXH, BHYT, BHTN cho bà Trần Thị H, sinh năm 1984, số CCCD xxxxxxxxxxxx, với mã số 7408145117 có quá tr nh tham gia BHXH, BHYT, BHTN vào tháng 5/2008 đến tháng 8/2008 và t tháng 5/2009 đến tháng 8/2009 tại Công ty TNHH F; t tháng 11/2009 đến tháng 11/2010 tại Công ty TNHH E; t tháng 6/2011 đến tháng 10/2022 tại Công ty TNHH E1, BHXH xác nhận chốt sổ và đã nhận trợ cấp thất nghiệp theo quyết định số 22774 ngày 06/5/2024. Ngoài ra, qua tra cứu dữ liệu, BHXH cơ sở Lái Thiêu còn phát hiện bà Trần Thị H còn có mã số 7408198797 vào tháng 7/2008 tham gia bảo hiểm xã hội tại Công ty TNHH E, đã được Bảo hiểm xã hội thành phố T (nay là Bảo hiểm xã hội cơ sở Tân Uyên) chốt sổ ngày 12/11/2019. C ng với đó, bà Trần Thị H còn tham gia bảo hiểm xã hội với mã số 7409098224 t tháng 8/2009 đến tháng 10/2009 tại Công ty C1 phẩn chế biến gỗ T. Về đề nghị yêu cầu tuyên bố hợp đồng lao động vô hiệu giữa bà Trần Thị H với Công ty TNHH F và Công ty Cổ phần C, đề nghị Tòa án Căn cứ theo Điều 9, Điều 10, Điều 11 c a Nghị định số 145/2020/NĐ-CP quy định về việc xử lý hợp đồng lao động vô hiệu để tuyên bố hợp đồng lao động vô hiệu. Công ty TNHH F và Công ty Cổ phần C có giao kết lại hợp đồng lao động với người mượn hồ sơ hay không; về hợp đồng lao động, giấy tờ t y thân c a bà Trần Thị H, BHXH không có lưu trữ những hồ sơ này. Về các yêu cầu khác c a bà Trần Thị H không có ý kiến.

- Tại phiên họp, đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 16 - Thành phố Hồ

Chí Minh phát biểu ý kiến về việc giải quyết việc lao động và đề nghị: Quá tr nh tố tụng, Thẩm phán, Thư ký phiên họp và đương sự đã chấp hành theo đúng quy định c a pháp luật. Về nội dung: Xét thấy, yêu cầu c a bà Trần Thị H là có căn cứ, đề nghị Tòa án xem xét chấp nhận.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về th tục tố tụng: Người yêu cầu bà Trần Thị H; người có quyền lợi,

nghĩa vụ liên quan bà Hồ Thị N; Bảo hiểm xã hội cơ sở L đều có yêu cầu giải quyết vắng mặt. Công ty TNHH F; Công ty Cổ phần C cở sở T1 vắng mặt không rõ lý do. Căn cứ Điều 367 Bộ luật Tố tụng Dân sự, Tòa án tiến hành phiên họp vắng mặt các đương sự.

Xem xét yêu cầu c a đương sự:

Trong thời gian tháng 5/2008 đến tháng 8/2008 và t tháng 5/2009 đến

tháng 8/2009, người lao động tên Trần Thị H giao kết hợp đồng lao động với Công ty TNHH F và được Công ty TNHH F tham gia bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp với mã số bảo hiểm xã hội là 7408145117. Ngoài ra, t tháng 8/2009 đến tháng 10/2009, người lao động tên Trần Thị H giao kết hợp đồng lao động với Công ty Cổ phần C và được Công ty Cổ phần C tham gia bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp với mã số bảo hiểm xã hội là 7409098224. Tuy nhiên, bà H và bà N đều th a nhận người ký hợp đồng lao động với Công ty TNHH F và Công ty Cổ phần C, thực tế làm việc tại 02 công ty này trong 02 khoảng thời gian trên là bà Hồ Thị N (do bà H cho bà N mượn chứng minh nhân dân).

Xét thấy, lời khai c a bà H, bà N ph hợp với xác nhận c a Bảo hiểm xã

hội cơ sở Lái Thiêu. Bởi lẽ, trong khoảng thời gian tháng 7/2008, bà H đang làm việc tại Công ty TNHH E và tham gia bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp với mã số 7408198797. Như vậy, ch thể ký kết hợp đồng lao động với Công ty TNHH F trong khoảng thời gian tháng 5/2008 đến tháng 8/2008 là bà Hồ Thị N, không phải là bà Trần Thị H. Ngoài ra, trong khoảng thời gian t tháng 5/2009 đến giữa tháng 8/2009 bà N sử dụng CMND c a bà H để làm việc tại Công ty TNHH F và Công Cổ phần chế biến gỗ T, t đó dẫn đến sự tr ng lập về khoảng thời gian tham gia bảo hiểm c a bà H vào tháng 8/2009 giữ hợp động lao động được ký kết bởi bà Trần Thị H (do bà Hồ Thị N là người trực tiếp ký kết) với Công Ty TNHH F và Công Ty Cổ phần C.

Theo khoản 1 Điều 17 c a Bộ luật Lao động năm 2012 và khoản 1 Điều 15

c a Bộ luật Lao động năm 2019, quy định về nguyên tắc giao kết hợp đồng lao động: “Tự nguyện, bình đẳng, thiện chí, hợp tác và trung thực”. Theo quy định về nghĩa vụ cung cấp thông tin khi giao kết hợp đồng lao động tại khoản 2 Điều 19 c a Bộ luật Lao động năm 2012, th : “Người lao động phải cung cấp thông tin cho người sử dụng lao động về họ tên, tuổi, giới tính, nơi cư trú, trình độ học vấn, trình độ kỹ năng nghề, tình trạng sức khoẻ và vấn đề khác liên quan trực tiếp đến việc giao kết hợp đồng lao động mà người sử dụng lao động yêu cầu” và khoản 2 Điều 16 c a Bộ luật Lao động năm 2019, th : “Người lao động phải cung cấp thông tin trung thực cho người sử dụng lao động về họ tên, ngày tháng năm sinh, giới tính, nơi cư trú, trình độ học vấn, trình độ kỹ năng nghề, xác nhận tình trạng sức khỏe và vấn đề khác liên quan trực tiếp đến việc giao kết hợp đồng lao động mà người sử dụng lao động yêu cầu”. Theo quy định về hợp đồng lao động vô hiệu tại điểm b khoản 1 Điều 50 c a Bộ luật Lao động năm 2012, th : “Người ký kết hợp đồng lao động không đúng thẩm quyền” và điểm b khoản 1 Điều 49 c a Bộ luật Lao động năm 2019, th : “Người giao kết hợp đồng lao động không đúng thẩm quyền hoặc vi phạm nguyên tắc giao kết hợp đồng lao động quy định tại khoản 1 Điều 15 của Bộ luật này”. Theo hướng dẫn tại Công văn số 1767/LĐTBXH-BHXH ngày 31/5/2022 về việc người lao động mượn hồ sơ c a người khác để giao kết hợp đồng lao động c a Bộ L1 thì: “…Trường hợp người lao động mượn hồ sơ của người khác để giao kết hợp đồng lao động là hành vi vi phạm nguyên tắc “trung thực” theo quy định tại khoản 1 Điều 15 của Bộ luật Lao động và vi phạm nghĩa vụ cung cấp thông tin khi giao kết hợp đồng lao động theo quy định tại khoản 2 Điều 16 của Bộ luật Lao động. Căn cứ quy định tại điểm b khoản 1 Điều 49 của Bộ luật Lao động đây là trường hợp hợp đồng lao động vô hiệu toàn bộ…”. Do đó, có cơ sở xác định việc bà N mượn hồ sơ cá nhân c a bà H để giao kết hợp đồng lao động và tham gia bảo hiểm xã hội theo sổ BHXH là 7408145117 và số sổ BHXH là 7409098224 là hành vi vi phạm nguyên tắc “trung thực” và vi phạm nghĩa vụ cung cấp thông tin khi giao kết hợp đồng lao động, đây là trường hợp hợp đồng lao động vô hiệu toàn bộ.

T những nhận định trên, có căn cứ chấp nhận yêu cầu c a bà Trần Thị

H về việc yêu cầu tuyên bố hợp đồng lao động giữa bà Trần Thị H với Công ty TNHH F theo sổ bảo hiểm xã hội số 7408145117 và Công ty Cổ phần C theo sổ bảo hiểm xã hội số 7409098224 là vô hiệu.

Tại khoản 5 Điều 402 c a Bộ luật Tố tụng Dân sự quy định về xem xét

yêu cầu tuyên bố hợp đồng lao động vô hiệu, thỏa ước lao động tập thể vô hiệu:“... Tòa án phải giải quyết hậu quả pháp lý của việc tuyên bố hợp đồng lao động vô hiệu", chấp nhận yêu cầu c a bà Trần Thị H và ý kiến c a bà về việc xác định người lao động tại Công ty TNHH F trong giai đoạn tháng 5/2008 đến tháng 8/2008 và t tháng 5/2009 đến tháng 8/2009 là bà Hồ Thị N, không phải là bà Trần Thị H. C ng vơi đó, chấp nhận yêu cầu c a bà Trần Thị H và ý kiến c a bà về việc xác định người lao động tại Công ty Cổ phần C2 trong giai đoạn t tháng 8/2009 đến tháng 10/2009 là bà Hồ Thị N, không phải là bà Trần Thị H. Bà H và bà N có quyền liên hệ cơ quan bảo hiểm xã hội có thẩm quyền để cải chính thông tin tại Sổ bảo hiểm xã hội mã số 7408145117 và sổ bảo hiểm xã hội mã số 7409098224.

kiến c a đại diện Viện kiểm sát về nội dung việc lao động, các th tục tố

tụng, quá tr nh tiến hành tố tụng cũng như diễn biến tại phiên họp là ph hợp với quy định c a pháp luật.

Về lệ phí: bà Trần Thị H phải chịu 300.000đ (ba trăm ngh n đồng).

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ khoản 1 Điều 33; điểm d khoản 2 Điều 35; điểm v khoản 2 Điều

39;Điều 146; Điều 149; Điều 361; Điều 366; Điều 367; Điều 370; Điều 371; Điều 372; Điều 401 và Điều 402 c a Bộ luật Tố tụng dân sự;

- Căn cứ khoản 1 Điều 17; khoản 2 Điều 19; Điều 50; Điều 51 và Điều 52 c a

Bộ luật Lao động năm 2012;

- Căn cứ khoản 1 Điều 15; khoản 2 Điều 16; Điều 49; Điều 50 và Điều 51 c a

Bộ luật Lao động năm 2019;

- Căn cứ Điều 37 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 c a

y ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu giải quyết việc lao động c a bà Trần Thị H.

- Tuyên bố hợp đồng lao động giữa bà Trần Thị H với Công ty TNHH F (theo

sổ bảo hiểm xã hội số 7408145117) bị vô hiệu.

- Tuyên bố hợp đồng lao động giữa bà Trần Thị H với Công ty Cổ phần C

(theo sổ bảo hiểm xã hội số 7409098224) bị vô hiệu.

- Xác định người lao động theo sổ bảo hiểm xã hội số 7408145117 và sổ bảo

hiểm xã hội số 7409098224 không phải là bà Trần Thị H, sinh năm 1984, giới tính: Nữ, quốc tịch: Việt Nam, căn cước công dân số xxxxxxxxxxxx, chứng minh nhân dân số xxxxxxxxx. Bà Trần Thị H và bà Hồ Thị N được quyền liên hệ với C3 có thẩm quyền để tiến hành th tục cải chính thông tin tại sổ bảo hiểm xã hội mã số 7408145117 và mã số bảo hiểm xã hội số 7409098224.

2. Lệ phí sơ thẩm giải quyết việc lao động: Bà Trần Thị H phải chịu 300.000đ

(ba trăm ngh n đồng), được khấu tr vào tiền tạm ứng đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0026593 ngày 15/10/2025 c a Thi hành án dân sự Thành phố Hồ Chí Minh.

3. Người yêu cầu, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo

trong thời hạn 10 (mười) ngày, kể t ngày nhận được quyết định hoặc kể t ngày quyết định được thông báo, niêm yết. Viện kiểm sát c ng cấp có quyền kháng nghị quyết định giải quyết trong thời hạn 10 (mười) ngày, Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp có quyền kháng nghị trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể t ngày Tòa án ra quyết định.

Trường hợp Quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành

án dân sự th người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 c a Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ