vanban.org

Quyết định 26/QĐ-TA

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc tại Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh Cao Bằng (Địa chỉ: Tổ F, phường S, thành phố C, tỉnh Cao Bằng) đối với Lục Sỹ N, sinh ngày 25/01/1995, trú tại: xóm P - Cô B, xã P, huyện T, tỉnh Cao Bằng.

Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là 15 (mười lăm) tháng, kể từ ngày người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính bị tạm giữ để đưa đi cơ sở cai nghiện bắt buộc. Người bị đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính có quyền khiếu nại trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày nhận đượ… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? "Đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc"
  • Tòa quyết gì? Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc tại Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh Cao Bằng (Địa chỉ: Tổ F, phường S, thành phố C, tỉnh Cao Bằng) đối với Lục Sỹ N, sinh ngày 25/01/1995, trú tại: xóm P - Cô B, xã P, huyện T, tỉnh Cao Bằng.
  • Căn cứ chính? Điều 9 Luật Xử lý vi phạm hành chính; Điều 103 Luật Xử lý vi phạm hành chính; Điều 104 Luật Xử lý vi phạm hành chính
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TRÙNG KHÁNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH CAO BẰNG
Số: 26/QĐ-TA
Trùng Khánh, ngày 26 tháng 6 năm 2024

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRÙNG KHÁNH, TỈNH CAO BẰNG

Với thành phần tiến hành phiên họp gồm có:

Thẩm phán- Chủ tọa phiên họp: Bà Lý Thị Hoài – Thẩm phán Tòa án nhân dân huyện Trùng Khánh.

Thư ký phiên họp: Bà La Thị Huệ – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Trùng Khánh.

Ngày 26 tháng 6 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Trùng Khánh, tỉnh Cao Bằng tiến hành phiên họp xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo Quyết định mở phiên họp số: 26/QĐ-TA ngày 19 tháng 6 năm 2024, đối với:

Họ và tên: Lục Sỹ N, tên gọi khác: Không có; Sinh ngày 25/01/1995 tại xã P, huyện T, tỉnh Cao Bằng; Giới tính: Nam;

Số CCCD 004095004993, ngày cấp: 09/5/2021; Nơi cấp: Cục C về TTXH Bộ C1; Tôn giáo: Không; Trình độ văn hóa: 10/12; Nghề nghiệp: Làm ruộng;

Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở hiện nay: xóm P - Cô B, xã P, huyện T, tỉnh Cao Bằng;

Con ông Lục Sỹ K (Đã chết) và bà Nông Thị T (Đã chết).

Người bị đề nghị Lục Sỹ N (Vắng mặt không có lý do chính đáng, đã được tống đạt hợp lệ và không có ý kiến gì).

Có sự tham gia của:

1. Đại diện cơ quan đề nghị: Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội huyện T, tỉnh Cao Bằng: Bà Ngôn Thị L – Phó Trưởng phòng.

2. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trùng Khánh, tỉnh Cao Bằng: Bà Nông Thị Huyền Anh - Kiểm sát viên.

NHẬN THẤY:

Theo các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ thì nội dung vụ việc được tóm tắt như sau:

Lục Sỹ N, sinh năm 1995, trú tại: xóm P - Cô B, xã P, huyện T, tỉnh Cao Bằng tự khai nhận đã sử dụng ma túy từ năm 2020. Loại ma túy sử dụng là H, tần suất sử dụng mỗi tuần dùng từ 01 đến 02 lần. Cụ thể, lần cuối cùng mà đối tượng sử dụng trước khi lập hồ sơ đề nghị là ngày 28/5/2024; Ngày 10/6/2024, Lục Sỹ N đã bị lập Biên bản vi phạm về cai nghiện ma túy tự nguyện, quản lý sau cai nghiện ma túy và điều trị nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc thay thế. Vi phạm về không đăng ký, không thực hiện hoặc tự ý chấm dứt cai nghiện ma túy tự nguyện tại khoản 1 Điều 32 Luật phòng chống ma túy năm 2021. Công an xã P đã phối hợp với Trạm y tế xã P, huyện T xác định tình trạng nghiện ma túy đối với Lục Sỹ N. Tại phiếu kết quả xác định tình trạng nghiện ma túy ngày 31/5/2024 của Trạm y tế xã P, huyện T xác định: “Nghiện ma túy”.

Ngày 13/6/2024, Ủy ban nhân dân xã P đã có văn bản đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Lục Sỹ N kèm theo hồ sơ đến Trưởng phòng Lao động – Thương binh và Xã hội huyện T.

Ngày 17/6/2024, Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội huyện T có văn bản số 81/ĐN-CNBB về việc đề nghị xem xét, áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Lục Sỹ N.

Tại phiên họp

Đại diện Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội huyện T trình bày ý kiến: Lục Sỹ N là đối tượng sử dụng trái phép chất ma túy từ năm 2020 đến nay nhưng không đăng ký hình thức cai nghiện ma tuý là thuộc đối tượng quy định tại khoản 1 Điều 32 Luật phòng chống ma túy năm 2021, bị Ủy ban nhân dân xã P lập hồ sơ đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc. Vì vậy, đề nghị Tòa án nhân dân huyện Trùng Khánh xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Lục Sỹ N tại Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh Cao Bằng với thời hạn 15 (mười lăm) tháng.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trùng Khánh phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật trong xem xét áp dụng biện pháp xử lý hành chính: Quá trình từ khi thụ lý hồ sơ cho đến khi mở phiên họp và tại phiên họp, Thẩm phán, Thư ký đã tuân thủ đúng trình tự, thủ tục theo quy định; về thời hiệu lập hồ sơ, đối tượng áp dụng, trình tự thủ tục lập hồ sơ đã đúng theo quy định của pháp luật. Nhất trí với đề nghị của Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội huyện T, tỉnh Cao Bằng áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Lục Sỹ N tại Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh Cao Bằng với thời hạn 15 (mười lăm) tháng.

XÉT THẤY:

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ và trên cơ sở ý kiến của những người tham gia phiên họp.

Về thủ tục: Hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Lục Sỹ N được lập theo trình tự, thủ tục quy định tại Điều 103, Điều 104 của Luật xử lý vi phạm hành chính sửa đổi bổ sung năm 2020. Điều 40, 41 Nghị định 116/2021/NĐ-CP ngày 21/12/2021 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của luật phòng, chống ma túy, luật xử lý vi phạm hành chính về cai nghiện ma túy và quản lý cai nghiện ma túy.

Về điều kiện áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người bị đề nghị Lục Sỹ N đã đảm bảo theo quy định tại Điều 27 và Điều 32 Luật phòng chống ma túy.

Về thời hiệu áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đã đảm bảo theo quy định tại điểm d khoản 2 Điều 6 Luật xử lý vi phạm hành chính.

Tại phiên họp, Lục Sỹ N vắng mặt không có lý do chính đáng (Tòa án đã tống đạt hợp lệ tại biên bản giao nhận Quyết định mở phiên họp nhưng N không có ý kiến gì). Tòa án tiến hành phiên họp vắng mặt người bị đề nghị theo quy định tại khoản 2 Điều 20 Pháp lệnh số 03/2022/UBTVQH15 ngày 13/12/2022 quy định về trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân.

Về nội dung: Lục Sỹ N là đối tượng sử dụng trái phép chất ma túy từ năm 2020 đến nay. Ngày 31/5/2024, tại phiếu kết quả xác định tình trạng nghiện của Trạm y tế xã P, huyện T kết luận là đối tượng nghiện ma túy; ngày 10/6/2024, bị lập Biên bản vi phạm về cai nghiện ma túy tự nguyện, quản lý sau cai nghiện ma túy và điều trị nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc thay thế. Vi phạm quy định về không đăng ký, không thực hiện hoặc tự ý chấm dứt cai nghiện ma túy tự nguyện tại khoản 1 Điều 32 Luật phòng chống ma túy năm 2021.

Vì vậy, Lục Sỹ N thuộc đối tượng áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo quy định tại khoản 1 Điều 96 Luật xử lý vi phạm hành chính; khoản 1 Điều 32 Luật phòng chống ma túy năm 2021; điểm d khoản 1, Điều 33 Nghị định số 116/2021/NĐ-CP ngày 21/12/2021 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Phòng, chống ma túy, Luật xử lý vi phạm hành chính về cai nghiện và quản lý sau cai nghiện ma túy.

Người bị đề nghị Lục Sỹ N là người có đủ năng lực trách nhiệm hành chính, có hiểu biết pháp luật, nhưng coi thường pháp luật nên cố tình vi phạm hành chính. Lục Sỹ N đã trên 18 tuổi, có nơi cư trú ổn định, đã sử dụng trái phép chất ma túy từ năm 2020 đến nay.

Xét tính chất mức độ hành vi của Lục Sỹ N trong việc sử dụng ma túy là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma túy. Hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của Lục Sỹ N làm ảnh hưởng đến trật tự an toàn xã hội, có tác động xấu đến mọi mặt của đời sống, ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe, sự phát triển trí tuệ, thể chất của con người, là nguyên nhân dẫn đến các loại tội phạm. Do đó, xét thấy cần thiết để Lục Sỹ N có thời gian tập trung cai nghiện, được tiếp cận với các biện pháp y học nhằm hỗ trợ cai nghiện đạt hiệu quả.

Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ: Trong quá trình lập hồ sơ Lục Sỹ N đã tự nguyện khai báo về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của mình nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định khoản 2 Điều 9 Luật xử lý vi phạm hành chính.

Xét tính chất hành vi vi phạm, nhân thân, tình tiết giảm nhẹ của Lục Sỹ N thấy cần chấp nhận đề nghị của Phòng Lao động, thương binh và Xã hội huyện T và đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trùng Khánh, áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Lục Sỹ N thời hạn 15 (mười lăm) tháng là có căn cứ, cần được chấp nhận.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các Điều 6, 9, 95, 96, 103 và Điều 104 Luật xử lý vi phạm hành chính;

Căn cứ khoản 1 Điều 32 Luật Phòng, chống ma túy năm 2021; điểm d khoản 1 Điều 33 Nghị định số 116/2021/NĐ-CP ngày 21/12/2021 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số Điều của Luật Phòng, chống ma túy, Luật xử lý vi phạm hành chính về cai nghiện và quản lý sau cai nghiện ma túy;

Căn cứ vào các Điều 20, 23, 24, 31 và 32 của Pháp lệnh số 03/2022/UBTVQH15 ngày 13/12/2022 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân;

1. Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc tại Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh Cao Bằng (Địa chỉ: Tổ F, phường S, thành phố C, tỉnh Cao Bằng) đối với Lục Sỹ N, sinh ngày 25/01/1995, trú tại: xóm P - Cô B, xã P, huyện T, tỉnh Cao Bằng.

2. Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là 15 (mười lăm) tháng, kể từ ngày người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính bị tạm giữ để đưa đi cơ sở cai nghiện bắt buộc.

3. Người bị đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính có quyền khiếu nại trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được quyết định của Tòa án.

Cơ quan đề nghị có quyền kiến nghị, Viện kiểm sát cùng cấp có quyền kháng nghị trong thời hạn 05 ngày, kể từ ngày Tòa án công bố quyết định.

4. Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị mà không có khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị.

5. Công an huyện T, tỉnh Cao Bằng phối hợp với Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội huyện T, tỉnh Cao Bằng có trách nhiệm tổ chức thi hành đưa đối tượng Lục Sỹ N vào cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh Cao Bằng.

Cỡ chữ