- Tranh chấp gì? Yêu cầu tuyên bố hợp đồng lao động, thỏa ước lao động tập thể vô hiệu — án lao động — "Nguyễn Thị T - Công ty V"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận toàn bộ yêu cầu giải quyết việc lao động của chị Nguyễn Thu T.
- Căn cứ chính? Điều 15 Bộ luật lao động và Nghị; Điều 49 Bộ luật lao động và Nghị; Điều 50 Bộ luật lao động và Nghị
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ TRẢNG BÀNG TỈNH TÂY NINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 26/2024/QĐST-LĐ | Trảng Bàng, ngày 17 tháng 6 năm 2024 |
QUYẾT ĐỊNH
SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ
V/v yêu cầu tuyên bố hợp đồng lao động vô hiệu
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ TRẢNG BÀNG, TỈNH TÂY NINH
- Thành phần giải quyết việc dân sự gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: ông Đỗ Huy Phong.
- Thư ký phiên họp: ông Huỳnh Tấn Lộc - Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh tham gia phiên họp: ông Trần Tấn Anh - Kiểm sát viên.
Ngày 17 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số 04/2024/TLST-VLĐ ngày 21 tháng 3 năm 2024 về việc “Yêu cầu tuyến bố hợp đồng lao động vô hiệu”, theo Quyết định mở phiên họp sơ thẩm giải quyết việc dân sự số 29/2024/QĐST-LĐ ngày 07 tháng 6 năm 2024, gồm những người tham gia tố tụng sau đây:
- Người yêu cầu giải quyết việc dân sự: chị Nguyễn Thu T, sinh năm 1991; địa chỉ: ấp V, xã A, huyện B, tỉnh Tây Ninh; vắng mặt, có đơn xin vắng mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Công ty V; địa chỉ: khu chế xuất và công nghiệp L, phường A, thị xã T, tỉnh Tây Ninh.
Người đại diện theo pháp luật: ông S - Chức vụ: Tổng giám đốc; vắng mặt, có đơn xin vắng mặt.
2. Bảo hiểm xã hội thị xã T, tỉnh Tây Ninh; địa chỉ: Số 3, đường L, khu phố A, phường T, thị xã T, tỉnh Tây Ninh.
Người đại diện theo pháp luật: bà L - Chức vụ: Giám đốc Bảo hiểm xã hội thị xã T; vắng mặt, có đơn xin vắng mặt.
NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ:
Theo người yêu cầu giải quyết việc dân sự chị Nguyễn Thu T trình bày: khoảng năm 2011 chị Nguyễn Thu T bị mất chứng minh nhân dân, chị T không biết ai đã nhặt được chứng minh nhân dân của chị T sau đó sử dụng để ký hợp đồng lao động và làm việc tại Công ty V từ tháng 03-2011 đến tháng 07-2011 và được công ty đóng bảo hiểm xã hội từ tháng 03-2011 đến tháng 07-2011, mã số 7208010866, mang tên Nguyễn Thu T. Chị T làm công nhân tại Công ty B từ tháng 06-2010 đến tháng 12-2021 và được công ty đóng bảo hiểm xã hội từ tháng 06-2010 đến tháng 12-2021, với mã số 7210025282, mang tên Nguyễn Thu T. Do bị trùng thời gian đóng bảo hiểm xã hội tại hai công ty khác nhau nhưng dưới một tên là Nguyễn Thu T và có hai mã số bảo hiểm xã hội nên chị T không lãnh tiền bảo hiểm xã hội được. Vì vậy chị T nộp đơn yêu cầu Tòa án tuyên bố hợp đồng lao động đã ký giữa Công ty V và chị Nguyễn Thu T (do người khác sử dụng chứng minh nhân dân của chị T để ký hợp đồng) là vô hiệu do vi phạm nguyên tắc “trung thực” nhằm mục đích để chị T làm thủ tục nhận tiền bảo hiểm xã hội.
Theo người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Công ty V trình bày: Công ty V và chị Nguyễn Thu T có ký hợp đồng lao động. Chị T làm việc tại công ty từ tháng 03-2011 đến tháng 07-2011 và được công ty đóng bảo hiểm xã hội từ tháng 03-2011 đến tháng 07-2011, mã số 7208010866, mang tên Nguyễn Thu T. Đối với việc chị T cho rằng không làm việc tại công ty mà do người khác sử dụng chứng minh nhân dân của chị T để ký hợp đồng lao động và làm việc tại công ty thì công ty không biết. Vì khi tuyển dụng, các tài liệu và thông tin cá nhân do người lao động cung cấp đều được sao y, chứng thực đúng quy định. Tuy nhiên hiện Công ty vẫn còn lưu trữ hình ảnh của người tên Nguyễn Thu T ký hợp đồng lao động và làm việc tại công ty qua đối chiếu với chứng minh nhân dân và căn cước công dân của chị Nguyễn Thu T thì không cùng một người. Nay chị T yêu cầu Tòa án tuyên bố hợp đồng lao động đã ký giữa Công ty V và chị Nguyễn Thu T (do người khác sử dụng chứng minh nhân dân của chị T để ký hợp đồng) vô hiệu do vi phạm nguyên tắc “trung thực” nhằm mục đích để chị T làm thủ tục nhận tiền bảo hiểm xã hội thì công ty đồng ý và công ty không có yêu cầu gì trong vụ việc lao động này.
Theo người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Bảo hiểm xã hội thị xã T, tỉnh Tây Ninh trình bày: kiến nghị Tòa án Nhân dân thị xã Trảng Bàng xem xét tuyên bố hợp đồng lao động giữa chị Nguyễn Thu T và Công ty V vô hiệu.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng và việc giải quyết yêu cầu:
- Việc chấp hành pháp luật tố tụng: Thẩm phán thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn theo đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự; Hội đồng xét đơn yêu cầu đã thực hiện đúng, đầy đủ quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự về việc giải quyết việc lao động; người tham gia tố tụng đã thực hiện đúng, đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định của pháp luật.
- Về việc giải quyết vụ án: căn cứ Điều 15, 49, 50 Bộ luật lao động và Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 tháng 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Đề nghị chấp nhận toàn bộ yêu cầu giải quyết việc lao động của chị Nguyễn Thu T; tuyên bố hợp đồng lao động giữa chị Nguyễn Thu T và Công ty V là vô hiệu; chị Nguyễn Thu T phải chịu lệ phí sơ thẩm giải quyết việc lao động theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp và ý kiến của đại diện Viện kiểm sát tại phiên họp, Tòa án nhân dân thị xã Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh nhận định:
Về thủ tục tố tụng: người yêu cầu đề nghị Tòa án nhân dân thị xã Trảng Bàng tuyên bố hợp đồng lao động vô hiệu, thuộc quy định tại khoản 1 Điều 33 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Hợp đồng lao động được giao kết và thực hiện là tại Công ty V; địa chỉ: khu chế xuất và công nghiệp L, phường A, thị xã T, tỉnh Tây Ninh nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã Trảng Bàng theo điểm v khoản 2 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Tòa án đã triệu tập người yêu cầu và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan tham gia phiên họp theo quy định pháp luật. Tại phiên họp người yêu cầu và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt, có đơn xin vắng mặt. Căn cứ quy định tại khoản 2, 3 Điều 367 của Bộ luật Tố tụng dân sự Tòa án tiến hành phiên họp.
Đối với yêu cầu của chị Nguyễn Thu T:
Xét thấy việc chị T bị người khác sử dụng chứng minh nhân dân để ký hợp đồng lao động và làm việc tại Công ty V là có thật. Hành vi này là vi phạm nguyên tắc “trung thực” theo quy định tại khoản 1 Điều 15 của Bộ luật lao động, thuộc trường hợp hợp đồng vô hiệu toàn bộ theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 49 của Bộ luật lao động.
Bảo hiểm xã hội cung cấp thông tin về thời gian đóng bảo hiểm xã hội của chị T tại Công ty V từ tháng 03-2011 đến tháng 07-2011, mã số 7208010866, mang tên Nguyễn Thu T phù hợp với lời trình bày và thông tin do chị T cung cấp.
Do đó, có căn cứ chấp nhận yêu cầu của chị T về việc tuyên bố hợp đồng lao động đã ký giữa Công ty V với chị Nguyễn Thu T (do người khác sử dụng chứng minh nhân dân của chị T để ký hợp đồng lao động) vô hiệu.
Về lệ phí: chị Nguyễn Thu T phải chịu theo quy định.
Ý kiến và đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Trảng Bàng tại phiên họp phù hợp với nhận định của Tòa án nên chấp nhận.
Từ các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 15, 49, 50 của Bộ luật lao động; Điều 33, 39, 149, 367, 372, 401, 402 của Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:
1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu giải quyết việc lao động của chị Nguyễn Thu T.
Tuyên bố hợp đồng lao động giữa chị Nguyễn Thu T với Công ty V là vô hiệu.
2. Lệ phí sơ thẩm giải quyết việc lao động: chị Nguyễn Thu T phải chịu 300.000 đồng, được khấu trừ vào tiền tạm ứng lệ phí đã nộp 300.000 đồng theo biên lai thu số 0014800 ngày 21 tháng 3 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh.
3. Quyền kháng cáo, kháng nghị: chị Nguyễn Thu T, Công ty V và Bảo hiểm xã hội thị xã T, tỉnh Tây Ninh có quyền kháng cáo quyết định giải quyết việc dân sự trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày nhận được quyết định giải quyết việc dân sự hoặc kể từ ngày quyết định đó được thông báo, niêm yết.
Viện kiểm sát nhân dân thị xã Trảng Bàng có quyền kháng nghị quyết định giải quyết việc dân sự trong thời hạn 10 ngày, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh có quyền kháng nghị trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày Tòa án ra quyết định.
4. Trong trường hợp quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b, và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Tây Ninh; - VKSND thị xã Trảng Bàng; - Chi cục THADS Tx Trảng Bàng; - Các đương sự; - Lưu. | TM. HỘI ĐỒNG GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN HỌP Đỗ Huy Phong |