vanban.org

Quyết định 26/2019/QĐST-HNGĐ — Yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn...

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Công nhận thuận tình ly hôn và sự thỏa thuận của các đương sự cụ thể như sau:

1. Về hôn nhân: Chị Vũ Thị L và anh Trần Văn H thuận tình ly hôn. 2. Về nuôi con chung: Chị Vũ Thị L và anh Trần Văn H không có con chung. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn... — án hôn nhân và gia đình — "Vũ Thị L - Trần Văn H"
  • Tòa quyết gì? Công nhận thuận tình ly hôn và sự thỏa thuận của các đương sự cụ thể như sau:
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 212 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 213 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN V1
TỈNH THÁI BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 26/2019/QĐST-HNGĐV1, ngày 03 tháng 5 năm 2019

QUYẾT ĐỊNH

CÔNG NHẬN THUẬN TÌNH LY HÔN

VÀ SỰ THỎA THUẬN CỦA CÁC ĐƢƠNG SỰ

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN V1, TỈNH THÁI BÌNH

Căn cứ các Điều 212, 213 và khoản 4 Điều 397 Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ Điều 55 Luật Hôn nhân và gia đình;

Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Sau khi nghiên cứu hồ sơ việc dân sự thụ lý số: 24/2019/TLST-HNGĐ ngày 05 tháng 4 năm 2019, về việc yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn, gồm những người tham gia tố tụng sau đây:

1. Chị Vũ Thị L, sinh năm 1993;

Nơi cư trú: Thôn T, xã V, thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình.

2. Anh Trần Văn H, sinh năm 1983;

Nơi cư trú: Thôn N, xã V, huyện V1, tỉnh Thái Bình.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về hôn nhân: Chị Vũ Thị L và anh Trần Văn H đăng ký kết hôn ngày 26 tháng 9 năm 2018 tại UBND xã V, huyện V1, tỉnh Thái Bình. Trước khi kết hôn anh chị có thời gian tìm hiểu, đến với nhau là tự nguyện, trong điều kiện khi đó cả hai đều làm công nhân. Sau kết hôn, anh chị chung sống hạnh phúc được khoảng 02 tháng thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân chính là do bất đồng về quan điểm sống, cách sống, quan hệ sinh lý không hòa hợp, anh chị liên tục xảy ra cãi vã và từ ngày mùng 3 Tết âm lịch năm 2019 do mâu thuẫn căng thẳng chị L bỏ về nhà bố mẹ đẻ ở, anh H nhiều lần đi tìm nhưng chị L không về, anh chị đã sống ly thân từ đó đến nay. Mâu thuẫn giữa anh chị đã được hai bên gia đình phân tích, hòa giải nhưng không có kết quả. Nay chị L và anh H đều xác định tình cảm vợ chồng không còn, mâu thuẫn đã thực sự trầm trọng, không còn khả năng hàn gắn, do đó anh chị thống nhất xin thuận tình ly hôn để hai bên ổn định tư tưởng, ổn định cuộc sống. Việc ly hôn anh chị đều đã suy nghĩ kỹ và hoàn toàn tự nguyện, anh chị đề nghị Tòa án công nhận.

Về nuôi con chung: Chị Vũ Thị L và anh Trần Văn H không có con chung.

Về chia tài sản chung: Chị Vũ Thị L và anh Trần Văn H không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về lệ phí: Chị Vũ Thị L và anh Trần Văn H phải chịu tiền lệ phí giải quyết việc dân sự theo quy định của pháp luật.

Xét thấy: Chị Vũ Thị L và anh Trần Văn H đã thực sự tự nguyện ly hôn. Sự thỏa thuận của anh chị không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội.

Đã hết thời hạn 07 ngày, kể từ ngày lập biên bản hòa giải đoàn tụ không thành, không có đương sự nào thay đổi ý kiến về sự thỏa thuận đó.

QUYẾT ĐỊNH:

1. Công nhận thuận tình ly hôn và sự thỏa thuận của các đương sự cụ thể như sau:

1.1. Về hôn nhân: Chị Vũ Thị L và anh Trần Văn H thuận tình ly hôn.

1.2. Về nuôi con chung: Chị Vũ Thị L và anh Trần Văn H không có con chung.

1.3. Về chia tài sản chung: Chị Vũ Thị L và anh Trần Văn H không yêu cầu Tòa án giải quyết.

2. Về lệ phí Tòa án: Chị Vũ Thị L và anh Trần Văn H mỗi người phải nộp 150.000 đồng lệ phí giải quyết việc dân sự. Chuyển số tiền 300.000 đồng chị L, anh H đã nộp tạm ứng tại Biên lai số 0003318, 0003319 đều đề ngày 05 tháng 4 năm 2019 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện V1, tỉnh Thái Bình sang thành tiền lệ phí.

3. Quyết định này có hiệu lực pháp luật ngay sau khi được ban hành và không bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm.

Cỡ chữ