vanban.org

Quyết định 252/2025/QĐST-LĐ — Yêu cầu tuyên bố hợp đồng lao động, thỏa ước lao động tập thể vô hiệu

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

146; Điều 149; Điều 361; Điều 366; Điều 367; Điều 370; Điều 371; Điều 372; Điều 401 và Điều 402 cua Bộ luật Tố tụng dân sự;

luật Lao động năm 2012; luật Lao động năm 2019; Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Yêu cầu tuyên bố hợp đồng lao động, thỏa ước lao động tập thể vô hiệu — án lao động — "Phan Thị T"
  • Tòa quyết gì? 146; Điều 149; Điều 361; Điều 366; Điều 367; Điều 370; Điều 371; Điều 372; Điều 401 và Điều 402 cua Bộ luật Tố tụng dân sự;
  • Căn cứ chính? Điều 367 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 37 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 16 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Số: 252/2025/QĐST-LĐ
Thành phố Hồ Chí Minh, ngày 03 tháng 11 năm 2025

QUYẾT ĐỊNH

SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC LAO ĐỘNG

V/v yêu cầu tuyên bố hợp đồng lao động vô hiệu

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 16 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Thành phần giải quyết việc lao động gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Bà Nguyễn Thị H

Thư ký phiên họp: Bà Nguyễn Thị Tố U - Thư ký Tòa án.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 16 - Thành phố Hồ Chí Minh tham

gia phiên họp: Bà Nguyễn Thị T - Kiểm sát viên.

Ngày 03 tháng 11 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân Khu vực 16 - Thành phố

Hồ Chí Minh mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc lao động thụ lý số: 353/2025/TLST-VLĐ ngày 15 tháng 10 năm 2025 về việc “Yêu cầu tuyên bố hợp đồng lao động vô hiệu” theo Quyết định mở phiên họp sơ thẩm giải quyết việc lao động số: 214/2025/QĐST-LĐ ngày 27 tháng 10 năm 2025, gồm những người tham gia tố tụng sau đây:

Người yêu cầu: Bà Phan Thị T, sinh năm 1987; nơi thường trú: Ấp B, xã B, tỉnh An

Giang. Có yêu cầu vắng mặt.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. Công ty TNHH M (Việt Nam); địa chỉ: Thửa đất số 254, tờ bản đồ số 18 (C), tổ

A, khu phố H, phường T, Thành phố Hồ Chí Minh. Vắng mặt.

2. Bà Dương Thị Mỹ L, sinh năm 1999; nơi thường trú: Khu V, phường T, Thành

phố Cần Thơ. Có yêu cầu vắng mặt.

3. Bảo hiểm xã hội cơ sở Bình Dương - Thành phố H; địa chỉ: Số A, L, phường B,

Thành phố Hồ Chí Minh, có yêu cầu giải quyết vắng mặt.

NỘI DUNG VIỆC LAO ĐỘNG:

- Theo đơn yêu cầu giải quyết việc lao động và lời khai trong quá trình giải

quyết bà Phan Thị T trình bày: Trong khoảng thời gian từ năm 2016 đến năm 2022 bà làm việc tại nhiều công ty khác nhau và tham gia bảo hiểm xã hội với mã số: 8916100831. Nay bà T đi làm thu tục tại Bảo hiểm xã hội thì được bảo hiểm xã hội cho biết bà bị trung thời gian thời gian tham gia bảo hiểm xã hội từ tháng 6 năm 2016 đến tháng 01 năm 2017 đối với sổ bảo hiểm có mã số 7416122576. Nguyên nhân bị trung bảo hiểm xã hội là do bà cho bà Dương Thị Mỹ L mượn hồ sơ để làm việc tại Công ty TNHH M (Việt Nam). Quá trình làm việc, bà L được Công ty TNHH M (Việt Nam) tham gia bảo hiểm xã hội với mã số bảo hiểm xã hội 7416122576. Vì thiếu hiểu biết, nghĩ rằng việc cho mượn hồ sơ để ký kết hợp đồng lao động với Công ty TNHH M (Việt Nam) là không vi phạm gì và chỉ mong muốn cho người thân cua mình có công việc để trang trải cuộc sống. Vì vậy, bà T yêu cầu Tòa án tuyên bố hợp đồng lao động giữa bà Phan Thị T và Công ty TNHH M (Việt Nam) là vô hiệu. Bà Phan Thị T không yêu cầu Tòa án giải quyết hậu quả khi tuyên hợp đồng vô hiệu.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là bà Dương Thị Mỹ L trình bày: Bà L

và bà T có mối quan hệ bạn bè. Khoảng tháng 06/2016, bà có mượn hồ sơ cua bà T để xin vào làm việc tại Công ty TNHH M (Việt Nam) và tham gia đóng bảo hiểm xã hội từ tháng 6/2016 đến tháng 01/2017 với số sổ bảo hiểm xã hội là 7416122576. Nay bà thống nhất toàn bộ yêu cầu cua bà T và đề nghị Tòa án tuyên bố hợp đồng lao động giữa bà Phan Thị T với Công ty TNHH M (Việt Nam) vô hiệu. Bà L không yêu cầu giải quyết hậu quả cua hợp đồng vô hiệu và có yêu cầu giải quyết vắng mặt.

- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan Công ty TNHH M (Việt Nam) đã được

Tòa án thông báo và tống đạt các văn bản tố tụng theo đúng quy định tại các Điều 177; Điều 208; Điều 220; Điều 227 và Điều 233 Bộ luật Tố tụng dân sự, nhưng đại diện Công ty không đến Tòa án làm việc và vắng mặt tại phiên họp.

- Bảo hiểm xã hội cơ sở B (viết tắt là BHXH) trình bày: Bà Phan Thị T sinh ngày

01/01/1987, chứng minh nhân dân số xxxxxxxxx được Công ty TNHH M (Việt Nam) tham gia bảo hiểm xã hội với mã số BHXH 7416122576 có quá trình tham gia BHXH, BHYT, BHTN từ tháng 6 năm 2016 đến tháng 01 năm 2017 tại Công ty TNHH M (Việt Nam) chưa được giải quyết hưởng trợ cấp một lần và trợ cấp thất nghiệp. Về đề nghị yêu cầu tuyên bố hợp đồng lao động vô hiệu giữa bà Phan Thị T và Công ty TNHH M (Việt Nam), đề nghị Tòa án giải quyết vụ án theo quy định pháp luật.

- Tại phiên họp, đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 16 - Thành phố Hồ

Chí Minh phát biểu ý kiến về việc giải quyết việc lao động và đề nghị: Quá trình tố tụng, Thẩm phán, Thư ký phiên họp và đương sự đã chấp hành theo đúng quy định cua pháp luật. Về nội dung: Xét thấy, yêu cầu cua bà Phan Thị T là có căn cứ, đề nghị Tòa án xem xét chấp nhận.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

1. Về thu tục tố tụng: Người yêu cầu bà Phan Thị T; Dương Thị Mỹ L, đại diện Bảo hiểm xã hội cơ sở B có yêu cầu giải quyết vắng mặt. Công ty TNHH M (Việt Nam) vắng mặt không có lý do. Căn cứ Điều 367 Bộ luật Tố tụng Dân sự, Tòa án tiến hành phiên họp vắng mặt các đương sự.

Xem xét yêu cầu cua đương sự:

Trong thời gian tháng 06/2016 đến tháng 01/2017, người lao động tên Phan

Thị T giao kết hợp đồng lao động với Công ty TNHH M (Việt Nam) và được Công ty TNHH M (Việt Nam) tham gia bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp với mã số bảo hiểm xã hội là 7416122576. Tuy nhiên, bà T và bà L thừa nhận người ký hợp đồng lao động với Công ty TNHH M (Việt Nam) và thực tế làm việc tại công ty trong khoảng thời gian tháng 6 năm 2016 đến tháng 01 năm 2017 là bà Dương Thị Mỹ L.

Xét thấy, lời khai cua bà T, bà L là phu hợp với xác nhận cua Bảo hiểm xã

hội cơ sở B. Bởi lẽ, trong khoảng thời gian tháng 06/2016 đến tháng 01/2017, bà T đang làm việc tại Công ty TNHH A và tham gia bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp với số sổ 8916100831. Như vậy, chu thể ký kết hợp đồng lao động với Công ty TNHH M (Việt Nam) trong khoảng thời gian tháng 06/2016 đến tháng 01/2017 là bà Dương Thị Mỹ L, không phải bà Phan Thị T.

Theo khoản 1 Điều 17 cua Bộ luật Lao động năm 2012 và khoản 1 Điều 15 cua Bộ

luật Lao động năm 2019, quy định về nguyên tắc giao kết hợp đồng lao động: “Tự nguyện, bình đẳng, thiện chí, hợp tác và trung thực”. Theo quy định về nghĩa vụ cung cấp thông tin khi giao kết hợp đồng lao động tại khoản 2 Điều 19 cua Bộ luật Lao động năm 2012, thì: “Người lao động phải cung cấp thông tin cho người sử dụng lao động về họ tên, tuổi, giới tính, nơi cư trú, trình độ học vấn, trình độ kỹ năng nghề, tình trạng sức khoẻ và vấn đề khác liên quan trực tiếp đến việc giao kết hợp đồng lao động mà người sử dụng lao động yêu cầu” và khoản 2 Điều 16 cua Bộ luật Lao động năm 2019, thì: “Người lao động phải cung cấp thông tin trung thực cho người sử dụng lao động về họ tên, ngày tháng năm sinh, giới tính, nơi cư trú, trình độ học vấn, trình độ kỹ năng nghề, xác nhận tình trạng sức khỏe và vấn đề khác liên quan trực tiếp đến việc giao kết hợp đồng lao động mà người sử dụng lao động yêu cầu”. Theo quy định về hợp đồng lao động vô hiệu tại điểm b khoản 1 Điều 50 cua Bộ luật Lao động năm 2012, thì: “Người ký kết hợp đồng lao động không đúng thẩm quyền” và điểm b khoản 1 Điều 49 cua Bộ luật Lao động năm 2019, thì: “Người giao kết hợp đồng lao động không đúng thẩm quyền hoặc vi phạm nguyên tắc giao kết hợp đồng lao động quy định tại khoản 1 Điều 15 của Bộ luật này”. Theo hướng dẫn tại Công văn số 1767/LĐTBXH-BHXH ngày 31/5/2022 về việc người lao động mượn hồ sơ cua người khác để giao kết hợp đồng lao động cua Bộ L1 thì: “…Trường hợp người lao động mượn hồ sơ của người khác để giao kết hợp đồng lao động là hành vi vi phạm nguyên tắc “trung thực” theo quy định tại khoản 1 Điều 15 của Bộ luật Lao động và vi phạm nghĩa vụ cung cấp thông tin khi giao kết hợp đồng lao động theo quy định tại khoản 2 Điều 16 của Bộ luật Lao động. Căn cứ quy định tại điểm b khoản 1 Điều 49 của Bộ luật Lao động đây là trường hợp hợp đồng lao động vô hiệu toàn bộ…”. Do đó, có cơ sở xác định việc bà Dương Thị Mỹ L mượn hồ sơ cá nhân cua bà Phan Thị T để giao kết hợp đồng lao động và tham gia bảo hiểm xã hội theo sổ BHXH là 7416122576 vào tháng 06/2016 đến tháng 01/2017 tại Công ty TNHH M (Việt Nam) là hành vi vi phạm nguyên tắc “trung thực” và vi phạm nghĩa vụ cung cấp thông tin khi giao kết hợp đồng lao động, đây là trường hợp hợp đồng lao động vô hiệu toàn bộ.

Từ những nhận định trên, có căn cứ chấp nhận yêu cầu cua bà Phan Thị T

về việc yêu cầu tuyên bố hợp đồng lao động giữa bà Phan Thị T với Công ty TNHH M (Việt Nam) theo sổ bảo hiểm xã hội số 7416122576 bị vô hiệu.

Tại khoản 5 Điều 402 cua Bộ luật Tố tụng Dân sự quy định về xem xét yêu

cầu tuyên bố hợp đồng lao động vô hiệu, thỏa ước lao động tập thể vô hiệu:“... Tòa án phải giải quyết hậu quả pháp lý của việc tuyên bố hợp đồng lao động vô hiệu", chấp nhận yêu cầu cua bà Phan Thị T về việc xác định người lao động tại Công ty TNHH M (Việt Nam) từ tháng 06/2016 đến tháng 01/2017 là bà Dương Thị Mỹ L, không phải bà Phan Thị T. Bà T, bà L có quyền liên hệ cơ quan bảo hiểm xã hội có thẩm quyền để cải chính thông tin tại Sổ bảo hiểm xã hội mã số 7416122576.

Y kiến cua đại diện Viện kiểm sát về nội dung việc lao động, các thu tục tố

tụng, quá trình tiến hành tố tụng cung như diễn biến tại phiên họp là phu hợp với quy định cua pháp luật.

Về lệ phí: Bà Phan Thị T phải chịu 300.000đồng (ba trăm nghìn đồng).

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ khoản 1 Điều 33; điểm d khoản 2 Điều 35; điểm v khoản 2 Điều 39;Điều

146; Điều 149; Điều 361; Điều 366; Điều 367; Điều 370; Điều 371; Điều 372; Điều 401 và Điều 402 cua Bộ luật Tố tụng dân sự;

- Căn cứ khoản 1 Điều 17; khoản 2 Điều 19; Điều 50; Điều 51 và Điều 52 cua Bộ

luật Lao động năm 2012;

- Căn cứ khoản 1 Điều 15; khoản 2 Điều 16; Điều 49; Điều 50 và Điều 51 cua Bộ

luật Lao động năm 2019;

- Căn cứ Điều 37 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 cua Uy

ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu giải quyết việc lao động cua bà Phan Thị T.

- Tuyên bố hợp đồng lao động giữa bà Phan Thị T với Công ty TNHH M (Việt

Nam) (theo sổ bảo hiểm xã hội số 7416122576) bị vô hiệu.

- Xác định người lao động theo sổ bảo hiểm xã hội số 7416122576 không phải là

bà Phan Thị T, sinh ngày 01/01/1987, giới tính: Nữ, quốc tịch: Việt Nam, số căn cước công dân xxxxxxxxxxxx; chứng minh nhân dân số xxxxxxxxx. Các đương sự được quyền liên hệ với C có thẩm quyền để tiến hành thu tục cải chính thông tin tại sổ bảo hiểm xã hội mã số 7416122576.

2. Lệ phí sơ thẩm giải quyết việc lao động: Bà Phan Thị T phải chịu 300.000đ

(ba trăm nghìn đồng), được khấu trừ tiền tạm ứng đã nộp theo biên lai thu số 0022957 ngày 06/10/2025 cua Thi hành án dân sự Thành phố Hồ Chí Minh.

3. Người yêu cầu, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo

trong thời hạn 10 (mười) ngày, kể từ ngày nhận được quyết định hoặc kể từ ngày quyết định được thông báo, niêm yết. Viện kiểm sát cung cấp có quyền kháng nghị quyết định giải quyết trong thời hạn 10 (mười) ngày, Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp có quyền kháng nghị trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày Tòa án ra quyết định.

Trường hợp Quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án

dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 cua Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ