vanban.org

Quyết định 25/2024/QĐST-LĐ — Yêu cầu tuyên bố hợp đồng lao động, thỏa ước lao động tập thể vô hiệu

TAND TX. Tân Uyên, tỉnh Bình Dương Tuyên án 15/07/2024 Lao động Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận toàn bộ yêu cầu giải quyết việc lao động của ông Danh H.

Tuyên bố hợp đồng lao động giữa ông Danh H với Công ty TNHH E, thời gian làm việc từ tháng 04/2016 đến tháng 01/2017 vô hiệu. Các bên có quyền và nghĩa vụ liên hệ cơ quan có thẩm quyền để thực hiện các thủ tục liên quan đến bảo hiểm theo quy định của pháp luật. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Yêu cầu tuyên bố hợp đồng lao động, thỏa ước lao động tập thể vô hiệu — án lao động — "Danh H yêu cầu tuyên bố hợp đồng lao động vô hiệu"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận toàn bộ yêu cầu giải quyết việc lao động của ông Danh H.
  • Căn cứ chính? Điều 149 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 15 Bộ luật Lao động; Điều 16 Bộ luật Lao động
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ TÂN UYÊN
TỈNH BÌNH DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 25/2024/QĐST-LĐTân Uyên, ngày 15 tháng 7 năm 2024

QUYẾT ĐỊNH

SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC LAO ĐỘNG

V/v yêu cầu tuyên bố hợp đồng lao động vô hiệu

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TÂN UYÊN, TỈNH BÌNH DƯƠNG

Thành phần giải quyết việc lao động gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Ông Nguyễn Ngọc Quyết.

Thư ký phiên họp: Bà Đỗ Thị Phương Hiền - Thư ký Toà án.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tân Uyên, tỉnh Bình Dương tham gia phiên họp: Ông Võ Anh Duy - Kiểm sát viên.

Ngày 15 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân thành phố T mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc lao động thụ lý số: 38/2024/TLST-VLĐ ngày 11 tháng 6 năm 2024 về việc “Yêu cầu tuyên bố hợp đồng lao động vô hiệu” theo Quyết định mở phiên họp sơ thẩm giải quyết việc lao động số: 38/2024/QĐST-LĐ ngày 08 tháng 7 năm 2024, gồm những người tham gia tố tụng sau đây:

- Người yêu cầu giải quyết việc dân sự: ông Danh H, sinh năm 1997. Địa chỉ: A đường V, tổ D, khu phố C, phường A, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh. Có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. Công ty TNHH E

Địa chỉ: thửa đất số 10, tờ bản đồ số 37, đường Đ, phường U, thành phố T, tỉnh Bình Dương.

Người đại diện hợp pháp: Ông Nguyễn Văn L, sinh năm 1990; địa chỉ: Chung cư B, đường T, phường Đ, thành phố D, tỉnh Bình Dương, là người đại diện theo uỷ quyền (Văn bản uỷ quyền ngày 25/6/2024). Có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt.

2. Bảo hiểm xã hội thành phố Tân Uyên

Địa chỉ: khu phố 5, phường Uyên Hưng, thành phố Tân Uyên, tỉnh Bình Dương.

Người đại diện hợp pháp của Bảo hiểm Xã hội thành phố T: Ông Trương Thanh N, chức vụ: Giám đốc. Có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt.

3. Ông Danh Quốc K, sinh năm 2000; Địa chỉ: A đường V, tổ D, khu phố C, phường A, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh. Có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt.

NỘI DUNG VIỆC LAO ĐỘNG:

- Theo đơn yêu cầu giải quyết việc lao động và lời khai trong quá trình giải quyết ông Danh H trình bày:

Vào khoảng tháng 8/2016, ông Danh H được nhận vào làm tại Công ty TNHH MTV M và bắt đầu tham gia đóng bảo hiểm xã hội. Sau khi làm tại Công ty M thì ông Danh H có đi làm ở một số công ty khác nhưng vẫn tham gia đóng bảo hiểm xã hội. Đến năm 2024, ông Danh H đi rút bảo hiểm thì được Cơ quan Bảo hiểm xã hội thông báo có 01 sổ bảo hiểm xã hội cũng mang tên Danh H, tham gia bảo hiểm xã hội từ tháng 04/2016 đến tháng 01/2017 tại Chi nhánh Công ty TNHH E. Thực tế người làm việc tại Công ty TNHH E là ông Danh Quốc K, ông K là em họ của ông Danh H. Vào năm 2016, ông K có mượn chứng minh của ông Danh H để đi làm công ty. Việc ông Danh Quốc K mượn thông tin của ông Danh H đi làm đã ảnh hưởng trực tiếp đến quyền lợi hợp pháp của ông Danh H.

Vì vậy, ông Danh H yêu cầu Tòa án tuyên bố hợp đồng lao động giữa ông Danh H (do ông Danh Quốc K ký kết) và Công ty TNHH E (Thời gian làm việc từ tháng 04/2016 đến tháng 01/2027) vô hiệu và không yêu cầu giải quyết hậu quả của hợp đồng vô hiệu.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Danh Quốc K trình bày: Ông Danh H là anh họ của ông Danh Quốc K. Năm 2016, ông chưa đủ tuổi để ký kết hợp đồng lao động nên đã mượn nhờ chứng minh nhân dân của ông Danh H để xin vào làm việc tại Công ty TNHH E và tham gia đóng bảo hiểm xã hội từ tháng 04/2016 đến tháng 01/2017 thì nghỉ việc. Ông Danh Quốc K thống nhất toàn bộ yêu cầu của ông Danh H.

- Đại diện Bảo hiểm xã hội thành phố T trình bày: Qua kiểm tra đối chiếu dữ liệu của ông Danh H được Công ty TNHH E tham gia BHXH, bảo hiểm y tế (BHYT), bảo hiểm thất nghiệp (BHTN), bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp (BHTNLĐ-BNN), với mã số BHXH 7416016442 từ tháng 04/2016 đến tháng 01/2017. Đã xác nhận quá trình đóng BHXH, BHTN, BHTNLĐ-BNN. Chưa hưởng BHXH một lần, chưa hưởng BHTN. Về các yêu cầu của ông Danh H Bảo hiểm xã hội thành phố T, tỉnh Bình Dương không có ý kiến, đề nghị giải quyết theo quy định của pháp luật.

- Ông Nguyễn Văn L là đại diện hợp pháp của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Công ty TNHH E trình bày: Việc ông Danh Quốc K mượn hồ sơ của ông Danh H để tham gia ký kết hợp đồng lao động với Công ty thì thời điểm tuyển dụng Công ty không phát hiện được. Qua rà soát xác định được người lao động có tên Danh H làm việc tại công ty từ tháng 04/2016 đến tháng 01/2017 thì nghỉ việc. Công ty đã chốt sổ bảo hiểm cho ông Danh H. Công ty đồng ý với yêu cầu của ông Danh H.

- Ý kiến của Kiểm sát viên tham gia phiên họp:

Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Trong quá trình giải quyết việc lao động Thẩm phán và Thư ký đã thực hiện đúng trình tự thủ tục quy định tại Bộ luật Tố tụng Dân sự. Người yêu cầu, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự.

Về việc giải quyết việc dân sự: Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc lao động, đã được xem xét tại phiên họp, nhận thấy yêu cầu tuyên bố hợp đồng lao động giữa ông Danh H và Công ty TNHH E (Thời gian làm việc từ tháng 04/2016 đến tháng 01/2017) vô hiệu là có căn cứ nên đề nghị Tòa án chấp nhận.

Những yêu cầu, kiến nghị để khắc phục vi phạm về tố tụng: Không có.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ được thẩm tra tại phiên họp, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát, Tòa án nhân dân thành phố Tân Uyên, tỉnh Bình Dương nhận định:

Về việc vắng mặt của những người tham gia tố tụng: Người yêu cầu; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt. Do đó, Tòa án tiến hành phiên họp vắng mặt các đương sự nói trên theo khoản 2, khoản 3 Điều 367 của Bộ luật Tố tụng Dân sự.

Về nội dung: Người yêu cầu và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đều thống nhất nội dung là ông Danh Quốc K là người trực tiếp tham gia ký kết hợp đồng lao động với Công ty TNHH E vào tháng 04/2016 với tên Danh H, ông K làm việc đến tháng 01/2017 thì nghỉ việc. Quá trình làm việc tại Công ty TNHH E, Công ty có tham gia đóng bảo hiểm cho ông Danh Quốc K với tên Danh H, đã chốt sổ bảo hiểm.

Xét thấy, việc ông Danh Quốc K sử dụng chứng minh nhân dân của ông Danh H để giao kết hợp đồng lao động với Công ty TNHH E là hành vi gian dối. Hành vi trên đã vi phạm nguyên tắc tự nguyện, bình đẳng, thiện chí, hợp tác và trung thực khi xác lập quan hệ lao động theo quy định tại khoản 1 Điều 15 của Bộ luật Lao động, vi phạm nghĩa vụ cung cấp thông tin theo quy định tại khoản 2 Điều 16 của Bộ luật Lao động nên thuộc trường hợp hợp đồng lao động vô hiệu toàn bộ theo khoản 1 Điều 49 của Bộ luật Lao động. Do đó, yêu cầu của ông Danh H là có cơ sở chấp nhận.

Về hậu quả của hợp đồng vô hiệu: Các đương sự xác định không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét. Sau khi Quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật, người lao động có quyền liên hệ cơ quan Bảo hiểm xã hội để được giải quyết các chế độ bảo hiểm xã hội theo quy định.

Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát về nội dung việc lao động, các thủ tục tố tụng, quá trình tiến hành tố tụng cũng như diễn biến tại phiên họp là phù hợp với quy định của pháp luật.

Về lệ phí: Ông Danh H phải chịu theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ các Điều 33, 39, 149, 367, 401, 402 của Bộ luật Tố tụng Dân sự;

- Căn cứ các Điều 15, 16, 49, 50 và 51 của Bộ luật Lao động;

- Căn cứ Điều 37 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu giải quyết việc lao động của ông Danh H.

Tuyên bố hợp đồng lao động giữa ông Danh H với Công ty TNHH E, thời gian làm việc từ tháng 04/2016 đến tháng 01/2017 vô hiệu.

Các bên có quyền và nghĩa vụ liên hệ cơ quan có thẩm quyền để thực hiện các thủ tục liên quan đến bảo hiểm theo quy định của pháp luật.

2. Lệ phí sơ thẩm giải quyết việc lao động: Ông Danh H phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) được khấu trừ hết vào tiền tạm ứng đã nộp theo biên lai thu số 0001577 ngày 05/6/2024 của Chi cục Thi hành án Dân sự thành phố Tân Uyên, tỉnh Bình Dương.

3. Người yêu cầu, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến việc giải quyết việc dân sự có quyền kháng cáo quyết định này trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày nhận được quyết định. Viện kiểm sát cùng cấp có quyền kháng nghị quyết định này trong thời hạn 10 ngày, Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp có quyền kháng nghị trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày Tòa án ra quyết định.

4. Trong trường hợp quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự./.

Cỡ chữ