vanban.org

Quyết định 240/2025/QĐST-VLĐ — Yêu cầu tuyên bố hợp đồng lao động, thỏa ước lao động tập thể vô hiệu

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

39, các Điều 146, 149, 361, 366, 367, 370, 371, 372, 401 và 402 của Bộ luật Tố tụng Dân sự;

của Bộ luật Lao động năm 2012; luật Lao động năm 2019; Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Yêu cầu tuyên bố hợp đồng lao động, thỏa ước lao động tập thể vô hiệu — án lao động — "Nguyễn Văn Đủ yêu cầu tuyên bố hợp đồng lao động vô hiệu"
  • Tòa quyết gì? 39, các Điều 146, 149, 361, 366, 367, 370, 371, 372, 401 và 402 của Bộ luật Tố tụng Dân sự;
  • Căn cứ chính? Điều 146 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 149 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 15 Bộ luật Lao động
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 16 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Số: 240/2025/QĐST-VLĐ
Thành phố Hồ Chí Minh, ngày 30 tháng 10 năm 2025

QUYẾT ĐỊNH

SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC LAO ĐỘNG

V/v yêu cầu tuyên bố hợp đồng lao động vô hiệu

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 16 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Thành phần giải quyết việc lao động gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Bà Chu Thị Vân.

Thư ký phiên họp: Ông Lê Duy Long - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực

16 - Thành phố Hồ Chí Minh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 16 - Thành phố Hồ Chí Minh

tham gia phiên họp: Bà Mai Thị Năm - Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 10 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 16, Thành

phố Hồ Chí Minh mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc lao động thụ lý số: 356/2025/TLST-VLĐ ngày 15 tháng 10 năm 2025 về việc “Yêu cầu tuyên bố hợp đồng lao động vô hiệu” theo Quyết định mở phiên họp sơ thẩm giải quyết việc lao động số: 206/2025/QĐST-LĐ ngày 24 tháng 10 năm 2025, gồm những người tham gia tố tụng sau đây:

- Người yêu cầu: Nguyễn Văn Đ, sinh năm: 1988; thường trú: Ấp G, xã X,

Thành phố Cần Thơ. Có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. Công ty TNHH Đ1; địa chỉ: Lô F, đường số E, KCN Đ, phường B, Thành

phố Hồ Chí Minh.

Người đại diện hợp pháp là ông Võ Quang M; địa chỉ: Lô F, đường số E,

KCN Đ, phường B, Thành phố Hồ Chí Minh. Có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt.

2. Ông Mai Văn H, sinh năm 1994: thường trú: Ấp G, xã X, Thành phố Cần

Thơ. Có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt.

3. Bảo hiểm xã hội cơ sở T, Thành phố Hồ Chí Minh; địa chỉ: Khu phố E,

phường T, Thành phố Hồ Chí Minh. Vắng mặt.

NỘI DUNG VIỆC LAO ĐỘNG:

- Theo đơn yêu cầu giải quyết việc lao động và lời khai trong quá trình giải

quyết ông Nguyễn Văn Đ trình bày: Trong khoảng thời gian từ tháng 7/2011 đến tháng 04/2012, ông Nguyễn Văn Đ làm việc tại Công ty TNHH F (Việt Nam) và tham gia bảo hiểm xã hội với mã số sổ bảo hiểm xã hội (viết tắt là BHXH) 7909243339. Tuy nhiên, trong khoảng thời gian từ tháng 09/2011 đến tháng 04/2012, ông Đ cho ông Mai Văn H mượn chứng minh nhân dân để xin việc làm tại Công ty TNHH Đ1 và tham gia bảo hiểm xã hội với mã số sổ BHXH 7411253921. Do đó, ông Nguyễn Văn Đ bị trùng bảo hiểm xã hội trong khoảng thời gian từ tháng 09/2011 đến tháng 04/2012. Do thiếu hiểu biết về pháp luật nên ông Đ đã cho ông H mượn chứng minh nhân dân để xin việc làm, có thu nhập nuôi sống bản thân chứ không vì tư lợi nào khác. Để đảm bảo quyền lợi bảo hiểm xã hội, ông Đ yêu cầu Tòa án tuyên bố hợp đồng lao động giữa ông Nguyễn Văn Đ và Công ty TNHH Đ1 là vô hiệu. Ông Nguyễn Văn Đ không yêu cầu Tòa án giải quyết hậu quả khi tuyên hợp đồng vô hiệu.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là ông Mai Văn H trình bày:

Khoảng năm 2011, ông H không đủ điều kiện để ứng tuyển lao động nên đã mượn chứng minh nhân dân của ông Nguyễn Văn Đ để xin việc làm, có thu nhập nuôi sống bản thân và phụ giúp gia đình. Ông H đã sử dụng chứng minh nhân dân của ông Nguyễn Văn Đ để ký hợp đồng lao động với Công ty TNHH Đ1 và tham gia bảo hiểm xã hội mã số sổ 7411253921. Ông H làm việc tại Công ty TNHH Đ1 đến tháng 04/2012 thì nghỉ việc, chưa hưởng bảo hiểm xã hội. Nay để đảm bảo quyền lợi về bảo hiểm của ông Nguyễn Văn Đ, ông H đề nghị Tòa án chấp nhận toàn bộ yêu cầu giải quyết việc lao động theo đơn yêu cầu của ông Nguyễn Văn Đ. Ông H không yêu cầu giải quyết hậu quả của hợp đồng vô hiệu.

- Tại biên công văn số 553/CV - BHXH ngày 25/8/2025 giữa Bảo hiểm xã

hội cơ sở Tân Uyên với ông Nguyễn Văn Đ thể hiện: Ông Nguyễn Văn Đ đã làm việc và tham gia bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp có quá trình bị trùng mã số bảo hiểm xã hội 7909243339 và mã số bảo hiểm xã hội 7411253921. Cụ thể: Từ tháng 09/2011 đến tháng 04/2012, ông Nguyễn Văn Đ được Công ty TNHH Đ1 mã số sổ 7411253921 chưa hưởng trợ cấp 1 lần, trợ cấp thất nghiệp.

- Người đại diện hợp pháp của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan

Công ty TNHH Đ1 là ông Võ Quang M trình: Đề nghị Tòa án xử theo quy định pháp luật.

- Tại phiên họp, đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 16, Thành phố

Hồ Chí Minh phát biểu ý kiến về việc giải quyết việc lao động và đề nghị: Quá trình tố tụng, Thẩm phán, Thư ký phiên họp và đương sự đã chấp hành theo đúng quy định của pháp luật. Người yêu cầu ông Nguyễn Văn Đ, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Mai Văn H và người đại diện hợp pháp của Công ty TNHH Đ1 có yêu cầu giải quyết vắng mặt. Bảo hiểm xã hội cơ sở T vắng mặt. Căn cứ Điều 367 Bộ luật Tố tụng Dân sự, Tòa án tiến hành phiên họp vắng mặt các đương sự là phù hợp. Về nội dung: Xét thấy, yêu cầu của ông Nguyễn Văn Đ là có căn cứ, đề nghị Tòa án xem xét chấp nhận.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về thủ tục tố tụng: Người yêu cầu ông Nguyễn Văn Đ, người có quyền

lợi, nghĩa vụ liên quan ông Mai Văn H và người đại diện hợp pháp của Công ty TNHH Đ1 có yêu cầu giải quyết vắng mặt. Bảo hiểm xã hội cơ sở T vắng mặt. Vì vậy, căn cứ Điều 367 Bộ luật Tố tụng Dân sự, Tòa án tiến hành phiên họp vắng mặt các đương sự.

Xem xét yêu cầu của đương sự:

Trong thời gian từ tháng 09/2011 đến tháng 04/2012, người lao động

tên Nguyễn Văn Đ giao kết hợp đồng lao động với Công ty TNHH Đ1 và được tham gia bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp với mã số bảo hiểm xã hội là 7411253921. Tuy nhiên, ông Đ và ông H đều thừa nhận người ký hợp đồng lao động với Công ty TNHH Đ1 và thực tế làm việc tại công ty T1 khoảng thời gian từ tháng 09/2011 đến tháng 04/2012 là ông Mai Văn H (do ông Đ cho ông H mượn chứng minh nhân dân để xin việc làm).

Xét thấy, lời khai của ông Đ, ông H phù hợp với xác nhận của Bảo

hiểm xã hội cơ sở T. Bởi lẽ, trong khoảng thời gian từ tháng 09/2011 đến tháng 04/2012, ông Đ ký hợp đồng làm việc tại Công ty TNHH Đ1, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp với mã số sổ 7411253921. Như vậy, chủ thể ký kết hợp đồng lao động với Công ty TNHH Đ1 trong khoảng thời gian tháng 09/2011 đến tháng 04/2012 là ông Mai Văn H, không phải là ông Nguyễn Văn Đ.

Theo khoản 1 Điều 17 của Bộ luật Lao động năm 2012 và khoản 1 Điều 15

của Bộ luật Lao động năm 2019, quy định về nguyên tắc giao kết hợp đồng lao động: “Tự nguyện, bình đẳng, thiện chí, hợp tác và trung thực”. Theo quy định về nghĩa vụ cung cấp thông tin khi giao kết hợp đồng lao động tại khoản 2 Điều 19 của Bộ luật Lao động năm 2012, thì: “Người lao động phải cung cấp thông tin cho người sử dụng lao động về họ tên, tuổi, giới tính, nơi cư trú, trình độ học vấn, trình độ kỹ năng nghề, tình trạng sức khoẻ và vấn đề khác liên quan trực tiếp đến việc giao kết hợp đồng lao động mà người sử dụng lao động yêu cầu” và khoản 2 Điều 16 của Bộ luật Lao động năm 2019, thì: “Người lao động phải cung cấp thông tin trung thực cho người sử dụng lao động về họ tên, ngày tháng năm sinh, giới tính, nơi cư trú, trình độ học vấn, trình độ kỹ năng nghề, xác nhận tình trạng sức khỏe và vấn đề khác liên quan trực tiếp đến việc giao kết hợp đồng lao động mà người sử dụng lao động yêu cầu”. Theo quy định về hợp đồng lao động vô hiệu tại điểm b khoản 1 Điều 50 của Bộ luật Lao động năm 2012, thì: “Người ký kết hợp đồng lao động không đúng thẩm quyền” và điểm b khoản 1 Điều 49 của Bộ luật Lao động năm 2019, thì: “Người giao kết hợp đồng lao động không đúng thẩm quyền hoặc vi phạm nguyên tắc giao kết hợp đồng lao động quy định tại khoản 1 Điều 15 của Bộ luật này”. Theo hướng dẫn tại Công văn số 1767/LĐTBXH-BHXH ngày 31/5/2022 về việc người lao động mượn hồ sơ của người khác để giao kết hợp đồng lao động của Bộ L thì: “…Trường hợp người lao động mượn hồ sơ của người khác để giao kết hợp đồng lao động là hành vi vi phạm nguyên tắc “trung thực” theo quy định tại khoản 1 Điều 15 của Bộ luật Lao động và vi phạm nghĩa vụ cung cấp thông tin khi giao kết hợp đồng lao động theo quy định tại khoản 2 Điều 16 của Bộ luật Lao động. Căn cứ quy định tại điểm b khoản 1 Điều 49 của Bộ luật Lao động đây là trường hợp hợp đồng lao động vô hiệu toàn bộ…”. Do đó, có cơ sở xác định việc ông Nguyễn Văn Đ mượn hồ sơ cá nhân của ông Mai Văn H để giao kết hợp đồng lao động và tham gia bảo hiểm xã hội theo sổ BHXH số 7411253921 từ tháng 09/2011 đến tháng 04/2012 tại Công ty TNHH Đ1 là hành vi vi phạm nguyên tắc “trung thực” và vi phạm nghĩa vụ cung cấp thông tin khi giao kết hợp đồng lao động, đây là trường hợp hợp đồng lao động vô hiệu toàn bộ.

Từ những nhận định trên, có căn cứ chấp nhận yêu cầu của ông

Nguyễn Văn Đ về việc yêu cầu tuyên bố hợp đồng lao động giữa ông Nguyễn Văn Đ với Công ty TNHH Đ1 theo sổ bảo hiểm xã hội số 7411253921 bị vô hiệu.

Tại khoản 5 Điều 402 của Bộ luật Tố tụng Dân sự quy định về xem

xét yêu cầu tuyên bố hợp đồng lao động vô hiệu, thỏa ước lao động tập thể vô hiệu: “... Tòa án phải giải quyết hậu quả pháp lý của việc tuyên bố hợp đồng lao động vô hiệu", chấp nhận yêu cầu của ông Nguyễn Văn Đ về việc xác định người lao động tại Công ty TNHH Đ1 trong giai đoạn từ tháng 09/2011 đến tháng 04/2012 là ông Mai Văn H, không phải là ông Nguyễn Văn Đ. Ông Đ và ông H có quyền liên hệ cơ quan bảo hiểm xã hội có thẩm quyền để cải chính thông tin tại Sổ bảo hiểm xã hội mã số 7411253921.

Y kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 16, Thành phố Hồ

Chí Minh về nội dung việc lao động, các thủ tục tố tụng, quá trình tiến hành tố tụng cung như diễn biến tại phiên họp là phù hợp với quy định của pháp luật.

Về lệ phí: Ông Nguyễn Văn Đ phải chịu 300.000đ (ba trăm nghìn

đồng).

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ khoản 1 Điều 33, điểm d khoản 2 Điều 35, điểm v khoản 2 Điều

39, các Điều 146, 149, 361, 366, 367, 370, 371, 372, 401 và 402 của Bộ luật Tố tụng Dân sự;

- Căn cứ khoản 1 Điều 17, khoản 2 Điều 19, Điều 50, Điều 51 và Điều 52

của Bộ luật Lao động năm 2012;

- Căn cứ khoản 1 Điều 15, khoản 2 Điều 16, các Điều 49, 50 và 51 của Bộ

luật Lao động năm 2019;

- Căn cứ Điều 37 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016

của Uy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu giải quyết việc lao động của ông Nguyễn

Văn Đ.

- Tuyên bố hợp đồng lao động giữa ông Nguyễn Văn Đ với Công ty TNHH

Đ1 [Theo sổ bảo hiểm xã hội số 7411253921] bị vô hiệu.

- Xác định người lao động theo sổ bảo hiểm xã hội số 7411253921 không

phải là ông Nguyễn Văn Đ, sinh năm 1988; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; căn cước công dân số xxxxxxxxxxxx. Ông Nguyễn Văn Đ và ông Mai Văn H được quyền liên hệ với C có thẩm quyền để tiến hành thủ tục cải chính thông tin tại sổ bảo hiểm xã hội mã số 7411253921.

2. Lệ phí sơ thẩm giải quyết việc lao động: Ông Nguyễn Văn Đ phải chịu

300.000đ (ba trăm nghìn đồng), được khấu trừ hết vào tiền tạm ứng đã nộp theo biên lai thu số 0022965 ngày 06/10/2025 của Thi hành án Dân sự Thành phố Hồ Chí Minh.

3. Người yêu cầu, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng

cáo trong thời hạn 10 (mười) ngày, kể từ ngày nhận được quyết định hoặc kể từ ngày quyết định được thông báo, niêm yết. Viện kiểm sát cùng cấp có quyền kháng nghị quyết định giải quyết trong thời hạn 10 (mười) ngày, Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp có quyền kháng nghị trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày Tòa án ra quyết định.

Trường hợp Quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi

hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ