- Tranh chấp gì? Yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn... — án hôn nhân và gia đình — "Nguyễn Ngọc Quế A - Trần Quang T"
- Tòa quyết gì? Công nhận thuận tình ly hôn và sự thoả thuận của các đương sự cụ thể như sau:
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Luật Phí và lệ phí; Điều 397 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PLEIKU TỈNH GIA LAI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 240/2025/QĐST-HNGĐ | Pleiku, ngày 18 tháng 6 năm 2025 |
QUYẾT ĐỊNH
CÔNG NHẬN THUẬN TÌNH LY HÔN
VÀ SỰ THỎA THUẬN CỦA CÁC ĐƯƠNG SỰ
Căn cứ vào Điều 397 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ vào Điều 55, 81, 82, 83, 84 của Luật hôn nhân và gia đình;
Căn cứ Luật Phí và Lệ phí năm 2015;
Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Sau khi nghiên cứu hồ sơ việc dân sự thụ lý số: 355/2025/TLST-HNGĐ ngày 10/6/2025 về việc yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn và thỏa thuận nuôi con, gồm những người tham gia tố tụng sau đây:
Người yêu cầu giải quyết việc dân sự:
+ Chị Nguyễn Ngọc Quế A, sinh năm 1992.
Địa chỉ: Thôn Tiên S 1, xã Biển H, thành phố P, tỉnh G.
+ Anh Trần Quang T, sinh năm 1988.
Địa chỉ: Tổ 6, ấp 6, xã Thanh S, huyện Định Q, tỉnh Đ.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Việc thuận tình ly hôn và thỏa thuận của các đương sự được ghi nhận trong biên bản hòa giải đoàn tụ không thành ngày 10/6/2025 là hoàn toàn tự nguyện và không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội.
Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Ngọc Quế A và anh Trần Quang T tự nguyện tìm hiểu nhau và đi đến hôn nhân, cả hai đăng ký kết hôn tại ủy ban nhân dân xã Tân S, thành phố P, tỉnh G vào ngày 15/10/2013. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống rất hạnh phúc và có với nhau hai người con. Cuộc sống vợ chồng vẫn hạnh phúc cho tới thời gian gần đây cả hai bắt đầu phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân chính là do cả hai không có tiếng nói chung, không hoà hợp nhau về tính tình, về cách sống và quan điểm sống. Đến năm 2021, anh chị bắt đầu sống ly thân mạnh ai nấy sống, không ai quan tâm hay có trách nhiệm gì với ai. Hiện nay, anh chị không còn tình cảm gì với nhau, mục đích hôn nhân không đạt được.
Chị Nguyễn Ngọc Quế A và anh Trần Quang T thống nhất thỏa thuận thuận tình ly hôn.
Về con chung: Chị Nguyễn Ngọc Quế A và anh Trần Quang T có hai con chung là cháu Trần Nguyễn Gia T, sinh ngày 16/5/2014 và Trần Nguyễn Tuệ N, sinh ngày 18/10/2019. Ly hôn các bên thống nhất thỏa thuận giao hai con là cháu Trần Nguyễn Gia T và Trần Nguyễn Tuệ N cho mẹ là Nguyễn Ngọc Quế A trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến khi con thành niên hoặc đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình.
Chị A và anh T tự nguyện thoả thuận về việc cấp dưỡng nuôi con chung.
Về tài sản chung và thanh toán nghĩa vụ chung: Chị A và anh T không có tài sản chung và nợ chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về lệ phí: Tiền lệ phí ly hôn sơ thẩm là 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) chị A và anh T tự nguyện chịu để sung vào Ngân sách Nhà nước.
Đã hết thời hạn 07 ngày, kể từ ngày lập Biên bản hòa giải đoàn tụ không thành, không có đương sự nào thay đổi ý kiến về sự thoả thuận đó.
QUYẾT ĐỊNH:
1. Công nhận thuận tình ly hôn và sự thoả thuận của các đương sự cụ thể như sau:
- Về hôn nhân: Chị Nguyễn Ngọc Quế A và anh Trần Quang T thống nhất thỏa thuận thuận tình ly hôn.
- Về con chung: Chị Nguyễn Ngọc Quế A và anh Trần Quang T có hai con chung là cháu Trần Nguyễn Gia T, sinh ngày 16/5/2014 và Trần Nguyễn Tuệ N, sinh ngày 18/10/2019.
Ly hôn các bên thống nhất thỏa thuận giao hai con là cháu Trần Nguyễn Gia T và Trần Nguyễn Tuệ N cho mẹ là Nguyễn Ngọc Quế A trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến khi con thành niên hoặc đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình.
Chị Anh và anh Thái tự nguyện thoả thuận về việc cấp dưỡng nuôi con chung.
Người không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ tôn trọng quyền của con được sống chung với người trực tiếp nuôi.
Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
Người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.
Trong trường hợp có yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức theo quy định của pháp luật, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc quyết định việc thay đổi mức cấp dưỡng.
- Về tài sản chung và nợ chung: Chị A và anh T không có tài sản chung và nợ chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về lệ phí: Tiền lệ phí ly hôn sơ thẩm là 300.000đ (ba trăm nghìn đồng), chị A và anh T tự nguyện chịu toàn bộ để sung vào Ngân sách Nhà nước nhưng được khấu từ vào số tiền tạm ứng lệ phí đã nộp là 300.000đ theo biên lai số 001706 ngày 10 tháng 6 năm 2025 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai. Chị Quế A và anh T đã nộp đủ tiền lệ phí ly hôn sơ thẩm.
2. Quyết định này có hiệu lực pháp luật ngay sau khi được ban hành và không bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm.
3. Quyết định này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - Đương sự; - TAND tỉnh G; - VKSND thành phố P; - Chi cục THADS thành phố P; - UBND xã Biển H (Tân S cũ), thành phố Pleiku, tỉnh G ( Số 59, ngày 15/10/2013); - Lưu VP, hồ sơ vụ án. | THẨM PHÁN Nguyễn Thị Xuân Hồng |