- Tranh chấp gì? "Quyết định áp dụng biện pháp đưa Nguyễn Văn B vào cơ sở cai nghiện bắt buộc"
- Tòa quyết gì? Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Nguyễn Văn B.
- Căn cứ chính? Điều 105 Luật Xử lý vi phạm hành chính; Điều 110 Luật Xử lý vi phạm hành chính; Điều 20 Pháp lệnh số 03/2022/UBTVQH15 Trình tự, thủ tục xem xét, quy…
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc | |
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỤC YÊN TỈNH YÊN BÁI Số: 24/2024/QĐ-TA | Lục Yên, ngày 19 tháng 6 năm 2024 |
QUYẾT ĐỊNH
Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỤC YÊN -TỈNH YÊN BÁI.
Với thành phần tiến hành phiên họp gồm có:
1. Thẩm phán: Ông Hoàng Văn Anh
2. Thư ký phiên họp: Ông Trần Mạnh Hùng.
Ngày 19 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Lục Yên, tỉnh Yên Bái, tiến hành phiên họp xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo Quyết định mở phiên họp số 22/2024/QĐ-TA ngày 12 tháng 6 năm 2024 đối với:
Nguyễn Văn B: giới tính: Nam; sinh ngày 16-7-1985
Số ĐDCN: 015085008891;
Dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; trình độ học vấn: 1/12
Nguyên quán: Xã L, huyện L, tỉnh Y
HKTT: Thôn T, xã L, huyện L, tỉnh Y.
Chỗ ở: Thôn T, xã L, huyện L, tỉnh Y.
Nghề nghiệp: Lao động tự do
Tiền án: 01 tiền án
Tiền sự: Không
Con ông Nguyễn Văn C (đã chết) và bà Hoàng Thị T
Nguyễn Văn B- Có mặt.
Có sự tham gia của:
1. Đại diện cơ quan đề nghị: Ông Nguyễn Quốc Thành- Phó trưởng phòng lao động- Thương binh và xã hội huyện Lục Yên.
2. Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Lục Yên, tỉnh Yên Bái: Ông Lý Văn Tầm- Kiểm sát viên.
NHẬN THẤY:
Nguyễn Văn B là người nghiện chất ma túy từ năm 2013. Ngày 04-5-2024 Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã L, huyện L, tỉnh Y ra quyết định số 89/QĐ-UBND áp dụng biện pháp quản lý người sử dụng trái phép chất ma túy. Trong thời gian chấp hành quyết định áp dụng biện pháp quản lý người sử dụng trái phép chất ma túy Nguyễn Văn B tiếp tục sử dụng trái phép chất ma túy với hình thức hít Hê rô in vào cơ thể. Ngày 23-52024 công an xã L phối hợp với Trung tâm y tế huyện L xét nghiệm tình trạng nghiện ma túy đối với Nguyễn Văn B. Kết quả xét nghiệm của Trung tâm y tế huyện L ngày 24-5-2024 xác định Nguyễn Văn B là người nghiện chất ma túy. Ngày 27-5-2024 Công an xã L thông báo kết quả xác định tình trạng nghiện đối với Nguyễn Văn B. Ngày 27-5-2024 Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã L ra quyết định số 107 dừng quản lý người sử dụng trái phép chất ma túy. Nguyễn Văn B không đăng ký cai nghiện ma túy tự nguyện hoặc đăng ký điều trị nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc thay thế. Do đó Nguyễn Văn B thuộc đối tượng bị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo quy định tại khoản 1 Điều 32 Luật phòng chống ma túy. Ngày 06-6-2024 Ủy ban nhân dân xã L tiến hành lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa Nguyễn Văn B vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.
Tại phiên họp đại diện Phòng lao động- Thương binh và xã hội huyện Lục Yên phát biểu ý kiến: Nguyễn Văn B là đối tượng nghiện ma túy. Chính quyền địa phương đã ra quyết định áp dụng biện pháp quản lý người sử dụng trái phép chất ma túy tại nơi cư trú đối với Nguyễn Văn B. Nhưng Nguyễn Văn B không từ bỏ được ma túy. Như vậy có đủ điều kiện áp dụng biện pháp xử lý hành chính đối với Nguyễn Văn B đề nghị Tòa án áp dụng biện pháp đưa Nguyễn Văn B vào cơ sở cai nghiện bắt buộc với thời gian từ 18 đến 24 tháng
Tại phiên họp người bị đề nghị áp dụng biện pháp hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc Nguyễn Văn B trình bày: Từ năm 2013 Nguyễn Văn B nghiện chất ma túy, đã nhiều lần sử dụng trái phép chất ma túy. Nay B nhận thức được tác hại của ma túy, đề nghị được chấp hành áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện ở mức thấp để sớm được trở về với gia đình và xã hội.
Đại diện viện kiểm sát nhân dân huyện Lục Yên phát biểu ý kiến:
- Hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính cơ bản đúng theo quy định tại Điều 6, 95, 96, 103, 104 Luật xử lý vi phạm hành chính; Điều 32 Luật phòng chống ma túy; Điều 28, 33, 40,41,42,43 Nghị định số 116/2021/NĐ-CP ngày 21-12-2021; Pháp lệnh số 03/2022/UBTVQH15 ngày 13-12-2022 về trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân;
- Qúa trình thụ lý hồ sơ và tại phiên họp xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính Thẩm phán, thư ký đã thực hiện đúng quy trình, thủ tục, thành phần tham gia phiên họp.
- Có đủ Căn cứ để áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Nguyễn Văn B. Đề nghị căn cứ quy định tại Điều 9, 95, 96, 103, 104 Luật xử lý vi phạm hành chính; Điều 32 Luật phòng chống ma túy; Điều 28, 33, 40, 41, 42, 43 Nghị định số 116/2021/NĐ-CP ngày 21-12-2021 và Pháp lệnh số 03/2022/UBTVQH15 ngày 13-12-2022 về trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân: Chấp nhận đề nghị của cơ quan đề nghị về việc áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Nguyễn Văn B với thời gian từ 18 đến 24 tháng.
XÉT THẤY
Hồ sơ được lập cơ bản đúng theo trình tự, thủ tục quy định tại Điều 103, Điều 104 luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012 sửa đổi bổ xung năm 2020. Ngày 06-6-2024 Ủy ban nhân dân xã L thông báo lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện đối với Nguyễn Văn B. Đến ngày 10-6-2024 Ủy ban nhân dân xã L tiến hành chuyển hồ sơ cho phòng lao động thương binh và xã hội huyện L chưa hết thời hạn 03 ngày làm việc để người bị đề nghị đọc hồ sơ, ghi chép nội dung cần thiết là vi phạm quy định tại khoản 3, 4 Điều 42 của Nghị định số 116/2021/NĐ-CP ngày 21-12-2021, tuy nhiên vi pham này không làm thay đổi bản chất vụ việc xác định Nguyễn Văn B thuộc đối tượng áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc
Căn cứ vào các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ: Đã xác định Nguyễn Văn B là người có đủ năng lực trách nhiệm hành chính. Do nghiện chất ma túy, B đã nhiều lần sử dụng trái phép chất ma túy. Mặc dù nhận thức được việc sử dụng trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật, nhưng B vẫn cố tình thực hiện với mục đích để thỏa mãn cơn nghiện cho bản thân. Hành vi của B đã gây ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự an toàn xã hội ở địa phương.
Xét về nhân thân: Ngày 15-11-2016 Nguyễn Văn B bị Tòa án nhân dân huyện L, tỉnh Y xử phạt 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng tù về tội mua bán trái phép chất ma túy, ngày 12-10-2022 B chấp hành xong hình phạt tù chưa được xóa án. Do đó Nguyễn Văn B có nhân thân không tốt. Nguyễn Văn B không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hành chính. Trong quá trình lập hồ sơ cũng như tại phiên họp Nguyễn Văn B “Tự nguyện khai báo, thành thật hối lỗi”. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hành chính được quy định tại khoản 2 Điều 9 Luật xử lý vi phạm hành chính được xem xét giảm nhẹ một phần khi quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính.
Qua nội dung phát biểu của phòng lao động- Thương binh và xã hội; của người bị đề nghị áp dụng biện pháp hành chính; ý kiến của Kiểm sát viên, xét thấy: Việc các cơ quan có thẩm quyền lập hồ sơ đề nghị Tòa án xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Nguyễn Văn B là cần thiết, phù hợp với quy định tại Điều 95, 96, khoản 2 Điều 105 Luật xử lý vi phạm hành chính; Điều 32 Luật phòng chống ma túy giúp Nguyễn Văn B từ bỏ được ma túy, trở thành người có ích cho gia đình và xã hội.
Căn cứ khoản 2 Điều 9, khoản 2 Điều 95, khoản 1 Điều 96, khoản 2 điều 105, điểm b khoản 1 Điều 110 Luật xử lý vi phạm hành chính; khoản 1 Điều 32 Luật phòng chống ma túy; khoản 1 Điều 20, 24, 25, 31, 32 Pháp lệnh số 03/2022/UBTVQH15 ngày 13-12-2022 về trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân: Có đủ căn cứ áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Nguyễn Văn B.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
1. Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Nguyễn Văn B.
2. Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là 20 (hai mươi) tháng, kể từ ngày người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính bị tạm giữ để đưa đi cơ sở cai nghiện bắt buộc.
3. Nguyễn Văn B có quyền khiếu nại quyết định trong hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày công bố Quyết định của Tòa án.
Cơ quan đề nghị có quyền kiến nghị; Viện Kiểm sát nhân dân huyện có quyền kháng nghị quyết định của Tòa án trong hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày Tòa án công bố quyết định.
4. Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị mà không có khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị.
5. Cơ quan thi hành quyết định: Phòng lao động- Thương binh và Xã hội huyện L phối hợp với Công an huyện L có trách nhiệm thi hành quyết định này.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Yên Bái - PLĐTB&XH huyện Lục Yên; - Công an huyện Lục Yên (02); - VKSND huyện; - UBND xã Liễu Đô; - Người bị áp dụng; - Lưu HS, tập QĐ, KT. | THẨM PHÁN Hoàng Văn Anh |