- Tranh chấp gì? Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất tích — án dân sự — "Nguyễn Thị X-Nguyễn Phương N"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận đơn yêu cầu giải quyết việc dân sự về việc tuyên bố một người mất tích của người yêu cầu là bà Nguyễn Thị X. Tuyên bố ông Nguyễn Phương N, sinh năm 1987, có địa chỉ cư trú cuối cùng tại số nhà XX, ấp M, xã N, huyện K, tỉnh Sóc Trăng mất tích;
- Căn cứ chính? Điều 68 Bộ luật Dân sự; Điều 27 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KẾ SÁCH TỈNH SÓC TRĂNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 24/2020/QĐST-DS | Kế Sách, ngày 22 tháng 10 năm 2020 |
QUYẾT ĐỊNH
SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ
V/v tuyên bố một người mất tích
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KẾ SÁCH, TỈNH SÓC TRĂNG
Thành phần giải quyết việc dân sự gồm có:
Thẩm phán-Chủ tọa phiên họp: Ông Nguyễn Văn Diệu
Thư ký phiên họp: Bà Phạm Thị Hạnh-Thư ký tòa án
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Kế Sách, tỉnh Sóc Trăng tham gia phiên họp: Bà Đặng Xuân Mai-Kiểm sát viên
Ngày 22 tháng 10 năm 2020, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Kế Sách, tỉnh Sóc Trăng mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số 101/2020/TLST-DS, ngày 13 tháng 5 năm 2020 về việc yêu cầu tuyên bố một người mất tích, theo Quyết định mở phiên họp sơ thẩm giải quyết việc dân sự số 316/2020/QĐST-DS, ngày 07/10/2020, gồm những người tham gia tố tụng sau đây:
Người yêu cầu giải quyết việc dân sự: Bà Nguyễn Thị X, sinh năm 1988, địa chỉ: ấp T, xã L, huyện P, thành phố Cần Thơ
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan (người bị yêu cầu tuyên bố mất tích): Ông Nguyễn Phương N, sinh năm 1987, địa chỉ đăng ký thường trú: XX, ấp M, xã N, huyện K, tỉnh Sóc Trăng
NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ :
Trong đơn yêu cầu giải quyết việc dân sự đề ngày 23 tháng 4 năm 2020 và tại phiên họp, người yêu cầu là bà Nguyễn Thị X trình bày: Vào năm 2013, bà và ông Nguyễn Phương N kết hôn tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại UBND xã xã T, huyện P, thành phố Cần Thơ ngày 19/11/2013. Vợ chồng chung sống đến năm 2015 thì phát sinh mâu thuẫn và ông N đã trở về nhà cha mẹ ruột của ông để ở tại ấp M, xã N, huyện K, tỉnh Sóc Trăng, đến nay không quay trở lại. Từ đó đến nay bà X và ông N không còn liên lạc với nhau và cũng không có tin tức gì về ông N. Hiện nay bà X muốn ly hôn ông N nhưng không biết được tin tức ông N đang ở đâu, làm gì; chính quyền địa phương nơi cư trú của ông N cho biết ông N vẫn còn đăng ký hộ khẩu thường trú tại ấp M, xã N, huyện K, tỉnh Sóc Trăng nhưng ông N đã bỏ đi khỏi địa phương nhiều năm, tin tức về ông N hiện nay không ai biết. Nay bà Nguyễn Thị X yêu cầu Tòa án tuyên bố ông Nguyễn Phương N mất tích.
Ý kiến của Viện Kiểm sát: Kiểm sát viên tham gia phiên họp nhận xét về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Thư ký phiên họp và của những người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết việc dân sự nhìn chung đều thực hiện đúng theo các quy định của pháp luật về tố tụng dân sự; đồng thời đề nghị Tòa án chấp nhận yêu cầu tuyên bố mất tích đối với ông Nguyễn Phương N, của người yêu cầu là bà Nguyễn Thị X.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN :
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp; ý kiến của các đương sự và đại diện Viện Kiểm sát tại phiên họp, Tòa án nhân dân huyện Kế Sách nhận định:
Đối với chứng cứ ban đầu người yêu cầu là bà Nguyễn Thị X nộp kèm theo Đơn yêu cầu tuyên bố một người mất tích là Đơn xác nhận hộ khẩu thường trú và các Biên bản xác minh của Tòa án trước đây trong vụ án ly hôn cho thấy, đã xác định ông Nguyễn Phương N vẫn còn đăng ký thường trú tại địa chỉ số nhà XX, ấp M, xã N, huyện K, tỉnh Sóc Trăng, nhưng ông N đã bỏ đi khỏi địa phương hơn 04 năm; ông N đi đâu, làm gì thì địa phương không nắm được vì không có trình báo. Chứng cứ này được xem là căn cứ thể hiện ông N đã biệt tích trong 02 (hai) năm liền trở lên, đủ điều kiện để bà Nguyễn Thị X yêu cầu Tòa án tuyên bố một người mất tích, theo quy định tại Điều 68 của Bộ luật Dân sự và Điều 387 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Xét về lý do để bà X yêu cầu Tòa án tuyên bố mất tích với ông N xuất phát từ mục đích hôn nhân, do ông N đã bỏ địa phương đi nhiều năm không rõ tung tích, ông N và bà X là vợ chồng nhưng không còn quan tâm, chăm sóc lẫn nhau, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, nên yêu cầu này của bà X để bổ sung hồ sơ khởi kiện xin ly hôn với ông N là có cơ sở cần được chấp nhận. Trước đây chính việc bà X không cung cấp được địa chỉ nơi ở của ông N nên Tòa án chưa giải quyết được yêu cầu ly hôn.
Khi thụ lý đơn và trong thời hạn chuẩn bị xét đơn yêu cầu tuyên bố một người mất tích, Tòa án đã ra Quyết định số 272/2020/QĐ-TA ngày 26/5/2020 Thông báo tìm kiếm người bị yêu cầu tuyên bố mất tích và công bố theo quy định tại Điều 388 của Bộ luật Tố tụng Dân sự, cụ thể là được đăng trên Báo Pháp luật Việt Nam (cơ quan của Bộ Tư pháp) trong ba số liên tiếp (vào các ngày 03, 04 và 05/6/2020), đăng trên Cổng thông tin điện tử của Tòa án và phát sóng trên Đài Truyền hình là Trung tâm Truyền hình Việt Nam khu vực Nam Bộ (VTV9) ba lần trong 03 ngày liên tiếp (các ngày 15, 16 và 17/6/2020). Như vậy, tính đến nay kể từ ngày đăng phát thông báo đầu tiên đã hơn 04 tháng, là hết thời hạn thông báo mà người bị yêu cầu tuyên bố mất tích không trở về và cũng không có tin tức gì; mặt khác, Tòa án xác minh chính quyền địa phương được biết ông N đã bỏ địa phương đi nhiều năm nhưng không trình báo, thời gian trước thì thỉnh thoảng vào dịp Tết Nguyên đán ông N có trở về 01-02 ngày rồi lại tiếp tục đi, nhưng khoảng chừng 03 năm nay thì không thấy ông N trở về; nên trường hợp này đã đủ điều kiện để Tòa án tuyên bố mất tích đối với ông Nguyễn Phương N theo quy định tại khoản 1 Điều 68 của Bộ luật Dân sự năm 2015.
Khoản 1 Điều 68 Bộ luật Dân sự quy định: "Khi một người biệt tích 02 năm liền trở lên, mặc dù đã áp dụng đầy đủ các biện pháp thông báo, tìm kiếm theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự nhưng vẫn không có tin tức xác thực về việc người đó còn sống hay đã chết thì theo yêu cầu của người có quyền, lợi ích liên quan, Tòa án có thể tuyên bố người đó mất tích...".
Ý kiến của đại diện Viện Kiểm sát là có căn cứ, phù hợp với nhận định trên đây và quy định của pháp luật nên được chấp nhận.
Về lệ phí giải quyết việc dân sự: Người yêu cầu Tòa án giải quyết việc dân sự phải chịu lệ phí sơ thẩm, theo quy định tại Điều 149 của Bộ luật Tố tụng dân sự và khoản 1 Điều 37 của Nghị quyết số 326/2016/ UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Về quyền kháng cáo của đương sự được thực hiện theo quy định tại các Điều 371 và 372 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH :
- Căn cứ khoản 3 Điều 27; điểm a khoản 2 Điều 35; điểm b khoản 2 Điều 39; các Điều 361, 367, 369, 370, 371, 372, 384, 385, 388 và Điều 389 của Bộ Luật Tố tụng dân sự; khoản 1 và khoản 3 Điều 68 của Bộ luật Dân sự; khoản 1 Điều 37 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án;
- Chấp nhận đơn yêu cầu giải quyết việc dân sự về việc tuyên bố một người mất tích của người yêu cầu là bà Nguyễn Thị X. Tuyên bố ông Nguyễn Phương N, sinh năm 1987, có địa chỉ cư trú cuối cùng tại số nhà XX, ấp M, xã N, huyện K, tỉnh Sóc Trăng mất tích;
- Lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự là 300.000 đồng, bà Nguyễn Thị X phải chịu và được khấu trừ hết vào số tiền tạm ứng lệ phí bà X đã nộp (300.000 đồng) theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0004105 ngày 13/5/2020 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện K, tỉnh Sóc Trăng;
- Người yêu cầu, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến việc giải quyết việc dân sự có quyền kháng cáo quyết định này trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày Tòa án ra quyết định; người vắng mặt tại phiên họp thì thời hạn này tính từ ngày nhận được quyết định hoặc từ ngày quyết định này được thông báo, niêm yết; Viện Kiểm sát có quyền kháng nghị theo thời hạn quy định tại khoản 2 Điều 372 của Bộ luật Tố tụng dân sự./.
| Nơi nhận: - Người yêu cầu giải quyết việc dân sự; - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; - Viện Kiểm sát nhân dân huyện Kế Sách; - Chi cục Thi hành án dân sự huyện K; - UBND xã N, huyện K-ST; - Lưu: Hồ sơ việc dân sự. | THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN HỌP Nguyễn Văn Diệu |